Tướng Giáp - Người phản đối chiến tranh miền Nam
Cập nhật lúc 30-10-2013 04:13:49 (GMT+1)
Tác giả cho rằng Lê Duẩn và phe chủ chiến đã sớm gạt bỏ phe Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp ra ngoài lề
Ông Giáp và Ông Hồ là hai hình nộm bù nhìn - nếu theo bài báo này
Là người có công lớn trong chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, dẫn đến việc ký kết hiệp định Geneva, kết thúc chiến tranh Đông Dương và chấm dứt chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam. Tuy nhiên, ông lại là người không ủng hộ cuộc chiến tranh chống lại Hoa Kỳ và đồng minh tại miền Nam sau năm 1965.
Võ Nguyên Giáp thực sự là một con người phi thường. Đáng chú ý nhất, ông là kiến trúc sư trong chiến thắng của Việt Minh trước quân Pháp ở Điện Biên Phủ vào mùa xuân năm 1954.
Chiến thắng này dẫn tới việc ký kết hiệp định Geneva kết thúc cuộc chiến tranh Đông Dương (1946-1954) và chấm dứt chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam, Campuchia và Lào.
Nhưng ông Giáp vẫn bị hiểu lầm ở phương Tây. Có lẽ huyền thoại vĩ đại nhất xung quanh con người của ông là ông tiếp tục chỉ đạo cuộc chiến tranh của cộng sản chống lại Hoa Kỳ và đồng minh Nam Việt Nam sau năm 1965. Thực tế là ông Giáp không có vai trò quan trọng trong việc định hình chiến lược chiến tranh của cộng sản sau năm 1965, và ông còn thực sự phản đối cuộc chiến ngay từ đầu.
Sau khi ký kết hiệp định Geneva vào tháng Bảy 1954, ông Giáp và Hồ Chí Minh chỉ đạo những người đi theo họ ở cả hai miền của Việt Nam chấm dứt chiến đấu, tập kết ở miền Bắc nếu khi đó họ là chiến binh ở khu vực phía dưới vĩ tuyến 17, và tin tưởng vào việc thống nhất hòa bình của đất nước trong vòng hai năm, sau khi một cuộc tổng tuyển cử bắt buộc theo hiệp định Geneva được tiến hành.
Hiệp định được ông Hồ và Giáp tin tưởng là khả thi. Bên cạnh đó, từ chối hòa bình và nối lại chiến tranh ngay lập tức có thể kích thích sự can thiệp quân sự của Mỹ. Sau tám năm dài chiến đấu, các lực lượng quân sự dưới sự chỉ huy của họ không có điều kiện để nghênh chiến ngay với quân đội Mỹ, cả về vật chất lẫn tinh thần. Điện Biên Phủ là một chiến thắng ngoạn mục, nhưng đó cũng là một chiến thắng với giá quá đắt khi tổn phí nhân lực và vật chất của chiến dịch là quá đáng.
Do đó, sau năm 1954 và tiếp tục vượt ra ngoài thời hạn tiến hành cuộc tổng tuyển cử quốc gia về thống nhất đất nước mà chúng ta đều biết là không bao giờ diễn ra, ông Hồ và Giáp là những người ủng hộ nhiệt thành của "đấu tranh hòa bình" ở miền Nam, tránh khiêu khích Washington, và "xây dựng chủ nghĩa xã hội" ở miền Bắc.
Trong thời gian này, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiến hành một nỗ lực đầy tham vọng và tốn kém để hiện đại hóa và sắp xếp lực lượng vũ trang của miền Bắc, Quân đội Nhân dân Việt Nam, và động viên hàng chục ngàn binh lính nhập ngũ phục vụ mục đích đó. Cam kết của lãnh đạo Liên Xô, Nikita Khrushchev "chung sống hoà bình" với những kẻ thù tư bản phương Tây bắt đầu vào năm 1956 chỉ càng xác nhận quan điểm của hai ông Hồ và Giáp chống lại việc tái mở chiến tranh ở Việt Nam.
Quyết định đình lại "cuộc đấu tranh giải phóng" trong năm 1954 và việc không thể nối lại chiến tranh ngay lập tức vào sau năm 1956 đã không được lòng của một số nhà lãnh đạo cộng sản ở miền Nam.
'Rạn nứt hai phe'
Lê Duẩn, người chỉ đạo nỗ lực chiến tranh của Việt Minh ở miền Nam trong phần lớn cuộc chiến Đông Dương, và vị phó của ông, Lê Đức Thọ, đặc biệt bực bội với việc hai ông Hồ và Giáp ủng hộ hiệp định Geneva. Cả hai ông này sau này đã được triệu tập về Hà Nội, nơi mà họ sẽ mở ra một chiến dịch kêu gọi nối lại ngay lập tức cuộc đấu tranh vũ trang ở miền Nam.
Đường lối của họ và sự chống đối của ông Hồ và Giáp tạo ra rạn nứt trong giới lãnh đạo. Cuộc rạn nứt này đã phân ra một bên là phe "ôn hòa", bao gồm ông Hồ, Giáp, và các đệ tử của họ - những người phản đối nối lại chiến tranh ít nhất vào thời điểm đó, và bên kia là phe "chủ chiến", bao gồm Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và Nguyễn Chí Thanh - những người cho rằng việc "giải phóng" miền Nam là không thể chờ đợi.
Cuộc tranh cãi tại Hà Nội lên đến đỉnh điểm vào cuối năm 1963, sau khi Tổng thống miền Nam Việt Nam, Ngô Đình Diệm bị lật đổ. Cảm thấy đây là thời gian tốt hơn bao giờ hết để nam tiến mạnh mẽ, phe chủ chiến đã tổ chức một cuộc đảo chính tại Hà Nội, thâu tóm việc kiểm soát ra quyết định.
Các ông Hồ, Giáp và những người ôn hòa khác đã bị gạt ra ngoài lề sau đó, và Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Hùng đã đảm nhận việc cầm cương của quá trình hoạch định chính sách tại Hà Nội. Với sự thúc giục của Lê Duẩn, vào tháng 12/1963, ban lãnh đạo cộng sản ban hành Nghị quyết 9 kêu gọi tiêu diệt quân thù ở miền Nam và khởi đầu một “cuộc chiến tranh lớn" để "giải phóng" khu vực phía dưới vĩ tuyến 17.
Vào thời gian cuộc chiến chống người Mỹ nổ ra vào năm 1965, Võ Nguyên Giáp đóng một vai trò chủ yếu mang tính nghi lễ ở miền Bắc.
Cũng giống như Hồ Chí Minh, ông trở thành một khuôn mặt của các nỗ lực chiến tranh chống Mỹ, một công cụ tiếp thị, cho một phe cánh trong Đảng, những người thiếu danh tiếng, uy tín và tính hấp dẫn trên trường quốc tế.
Cuộc "tổng công kích" năm 1968 không liên can gì tới tướng Giáp. Trên thực tế, Giáp chống lại chủ trương này. Cuộc công kích là đứa con tinh thần của Lê Duẩn. Hơn ông Hồ và chắc chắn là hơn hẳn ông Giáp, Lê Duẩn là người chịu trách nhiệm tại Hà Nội về cuộc chiến tranh chống lại Mỹ. Với ý nghĩa này, ông là kiến trúc sư "thực sự" trong chiến thắng của quân đội cộng sản vào năm 1975.
Chiến thắng của Lê Duẩn trước người Mỹ và các đồng minh của họ vào năm 1975 chắc chắn "toàn diện" hơn chiến thắng của tướng Giáp với người Pháp vào năm 1954, nhưng nó cũng tốn kém hơn. Ông Giáp không có công trạng gì với kết quả cuộc chiến chống Hoa Kỳ cũng như ông cũng không đáng bị đổ lỗi cho những tổn thất trong chiến thắng cuối cùng của Hà Nội.
Với giai đoạn sau năm 1954, ông Giáp nên được nhớ đến như một người phản đối cuộc chiến Việt Nam.
Bức ảnh trên hơi nhỏ nên lấy bức này để xem rõ hơn
Phải công nhận Cậu ta nhỉn cũng thấy sáng láng ,thông minh
Nếu sống ở nuớc ngoài thì có thể thành Bác học rùi
*****Tiếc là sống ở VN *****
Xung quanh Thì toàn là những ma mảnh bạn bè cỡ Chú Kim kỹ sư CHỮA xe đạp Xã hội thì từ bé tới lớn đều tham ô Bán nuớc ..Ăn cắp từ trên xuống duới
Từ thơ văn đến bạc vàng
Nên cậu ta mới ra nông nổi nì
..Nghĩ thấy cũng thuơng - Câu ta chỉ là cây kim nhỏ nằm giữa 4 cuc nam châm (thì cái này không hút cái kia cũng Hít )..Chỉ giận mấy cái nam châm đểu cáng kia do bon CS trui rèn mà ra
Bao nhiêu năm rồi còn vẫn u mê
Huyền thoại vang xa cho người mỏi mệt
Đi đâu cũng nghe tù đầy , mộ huyệt
Phủ khắp quê ta từng buớc đi về
Lời nào Cộng nô ,lời nào gian xảo
Một bầy mê say ,một bầy tráo trở ... ngày qua
Vừa cuớp tài nguyên ,rồi sang Hải đảo
Non nuớc mình - ôi nghe buồn quá ..Những Truờng Sa
Khăn tang trên đầu ,xiềng xích gông tay
Hôm qua biểu tình ..mấy ai còn lại
Thi gan kiên cuờng đâu sờn mệt mỏi
Một giống rồng tiên – đất Việt con nguời
Trông bao bạo tàn lại nhớ hôm xưa
Bao nhiêu anh linh bao dòng máu nhỏ
Trăm năm không yên bên từng ngọn cỏ
Chẳng biết thân anh hay khúc xuơng bò
Bao năm qua rồi còn vẫn u mê
Còn bọn cộng nô – còn đời khổ lụy
Còn tin Cộng nô - là còn mộ địa
Luỡi búa ,liềm kia diệt chết xuân thì
Tung hay hứng thì cứ việc vì Chế độ như 1gánh hát chèo mừ
..
Chiu khó đoc thêm để biết :
========trích ========đoạn ngắn ======
Lê Đức Thọ nắm toàn quyền thực sự trong đảng cộng sản Việt Nam từ đại hội 3 năm 1960 với sự đồng tình của tổng bí thư Lê Duẩn. Không ai có thể ngờ vực uy quyền tuyệt đối của Thọ, được gọi một cách kinh sợ là Sáu Búa. Cũng theo hồi ký “Viết cho Mẹ và Quốc Hội” của ông Nguyễn Văn Trấn (xuất bản năm 1993), uy quyền của Thọ lớn đến nỗi ông ta có thể cấm cả Hồ Chí Minh phát biểu trong một hội nghị mà ông Hồ Chí Minh cũng đành chịu. Được ông Trấn hỏi về Lê Đức Thọ, thì Tôn Đức Thắng, chủ tịch nước, thú nhận một cách mộc mạc: “Đ.M., tao cũng sợ nó!“
. Theo nhiều nhân chứng, Thọ từng xác quyết nhiều lần: “Đảng là tao!“. Lê Đức Thọ không chính thức là nhân vật số 1 trong đảng, trong danh sách Bộ Chính Trị chỉ đứng hàng thứ năm, sau các Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Hùng, Phạm Văn Đồng. Nhưng Thọ lại nắm bộ máy đảng và là nhân vật quyền lực nhất. Thọ có thể bắt giam những cộng sự viên của các nhân vật này mà không ai dám chống lại.
Thứ sáu, theo nhà báo Minh Diện thì Ung Văn Khiêm – một lãnh đạo cộng sản đã từng làm bộ trưởng ngoại giao cộng sản cũng bị Thọ “đì” thông qua bài viết: “Đừng để khi quá muộn, trường hợp ông Lê Đức Thọ”. Bài viết có đoạn: “Ông từng bị Trưởng ban tổ chức Trung ương Lê Đức Thọ và phe phái trù dập thẳng cánh, vu cho tư tưởng xét lại và những chuyện oan trái, gây bao nhiêu cay cực. Với tính khí nghĩa hiệp được truyền lai của “người mở đất” ông về làm dân không chịu cúi đầu. Không biết có phải do lương tâm bị day dứt không, mà Lê Đức Thọ đã tìm gặp Ung Văn Khiêm vào lúc cuối đời…”
Bản chất tàn độc của Lê Đức Thọ với “đồng chí” của mình còn có thể được hiện rõ hơn trong bài viết của tác giả Vũ Thế Phan với tựa đề: “Hồ ông: Đòn thù và câu nói nổi tiếng” (*).
Ngoài ra còn phải kể đến cuốn “Bên thắng cuộc” của Huy Đức đã cho chúng ta biết một câu nói rợn người đầy kinh hãi của Lê Đức Thọ qua lời kể của Giáo sư Hồ Ngọc Đại, con rể Lê Duẩn:
“Có lần ông Thọ nói ông còn để cái đầu ông Giáp trên cổ là đã may lắm”
Tàn độc:
Tàn độc là bản chất của cộng sản và điều đó với Lê Đức Thọ là điều đương nhiên. Không chỉ ác với “đồng chí “ của mình thì Lê Đức Thọ còn rất ác với nhân dân.
Thứ nhất, cuốn sách “365 ngày ở Việt Nam” của nhóm công tác do Liên Xô chỉ đạo trong năm 1975 tại Việt Nam đã viết tại trang 83: “Đồng Chí Tổng bí thư đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn cùng ban chấp hành trung ương đảng đã tiến hành ổn định nhanh chóng tình hình sau ngày 30/4/1975. Chính sách kỷ luật hà khắc mà nhà nước áp đặt cho những người lính chế độ Sài Gòn đã được chính đồng chí Tổng bí Thư Lê Duẩn đề ra trong một cuộc họp của bộ chính trị…”
Tuy nhiên cuốn sách này cũng cho biết thêm tại trang 84: “Lúc ban đầu, chính quyền và ban bí thư đảng Lao Động lo sợ áp lực của Liên Hợp Quốc mà đứng đầu là Mỹ sẽ lên án và tăng cường cấm vận kinh tế. Nhưng do được sự hậu thuẫn và cổ vũ của những đồng chi trong bộ chính trị như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng… thì chính sách đã được thực hiện…”
====================================
Hồ ông: Đòn thù và câu nói nổi tiếng” (*)
(*)
Thế giới đều đã tỏ tường Hồ ông mất nhằm đầu tháng 9 năm 1969, tuy nhiên điều kỳ lạ là ông mất trùng chóc ngày ông đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945-1975) tức cũng là ngày Đại lễ Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam từ 38 năm qua: 2-9 (1976-2013).
Trước khi thông cáo số 151-TB/TW của Bộ Chính trị do cố TBT Nguyễn Văn Linh ký và công bố ngày 19/8/1989, thì nơi nơi đều đinh ninh Hồ ông mất nhằm ngày 3 tháng 9 năm 1969, qua "Lời kêu gọi và Điếu văn của BCH TƯ ĐLĐ Việt Nam" do Lê Duẩn ký, 09/9/1969. Nghĩa là đảng Việt Cộng, dưới triều đại sinh sát của 2 bạo chúa Lê Duẩn và Lê Đức Thọ, đã giấu nhẹm bí mật này, lừa bịp đồng bào trong nước và nhân dân trên thế giới suốt 20 năm; cũng có nghĩa họ đã bất chấp mọi thủ đoạn, kể cả việc toa rập đánh tráo cả Ngày mất, xén sửa luôn bản Di chúc của vị lãnh tụ ‘vĩ đại muôn vàn kính yêu’ của họ, kiêm ‘cha già dân tộc’ tự phong, miễn là họ đạt được mục đích dù chỉ là giai đoạn. Bản thông cáo nêu trên chỉ được phổ biến sau khi Ba Duẩn ‘băng hà’ được gần 3 năm (10-7-1986) và bấy giờ, Lê Đức Thọ cũng đã buộc lòng nắm chặt tay Trường Chinh Đặng Xuân Khu và Phạm Văn Đồng cùng đồng hành về hưu và làm ‘cố vấn’, đồng ý ẳm Nguyễn Văn Linh lên ngai vàng của Ba Duẩn trong Đại hội VI (1986), rồi Sáu Búa đuổi kịp Ba Duẩn sau đó không lâu, 13-10-1990 (1): Chính thức chấm dứt triều Lê... trùng. Hoặc nói theo lối Trần Văn Thủy qua "Hà Nội trong mắt ai": Thời Lê mạt!
Bài viết
(New Thông Bảo, Ngày giỗ của cổ Tộng Thống Ngô Đình Diệm (01/11/2013) bên kia bị xoả, khoả cửa, nhà mình mà chỉ đứng ngoài xem, chở hông vô được
huhuhuhu!
Hôm nay tôi lại viết ở đây,
Nha quê không binh ban QL
Song cái này không phải do BQL làm
Mà do nguời post sau cùng ,đã không cẩn thận hay ,hìhì cố tình (TRỜI BIẾT )
-NHƯNG TUI BIẾT TAI SAO LAI BỊ NHƯ VẬY
Mấy ông nội chuyên môn rình nguoi ta soan ra rùi lấy lai .XONG GÂN CỔ LÊN LÀ
HTML ...ai soan ...Đầy trên Net
Giỏi thì giải thích sự kiện này đi - Hay chỉ đuợc cái ba hoa - rành chôm +chỉa
=
Muốn mở lai cái topic đó
thì nhờ ban QL sửa .Khi BQL ĐỒNG Ý
TUI sẽ nói họ cách làm
Bồ đào mĩ tửu, dạ quang bôi
Dục âm tì bà, mã thượng thôi
Tuý ngoạ sa trường, quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến, kỉ nhân hồi
(Vương Hàn)
Cái nì có nghĩa là :
ruợu bồ đào đưng trong chén dạ quang
toan uống nhưng tiếng tì bà dục lên ngựa
Tai sa truờng uống say xin chớ cuời
thời chinh chiến xưa nay mấy ai về
========
Kí Trần Canh
Hương Tân mĩ tửu, dạ quang bôi
Dục âm tì bà, mã thượng thôi
Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu
Địch lai phóng khứ, nhất nhân hồi.
(HCM)
Man phép nói qua một chút
Khúc Luơng Châu Từ của Vuơng Hàn trên net nhiều trang viết sai vì toàn copy and past
ẩm không phải là âm
vì âm là vần bằng sai luật tứ tuyệt ẩm (=uống )
Kỷ = không phải kỉ ..bởi chữ kỉ không là tiếng Hán
Thời Bác nhà ta hay dùng i ngắn thay y dài
Kỷ có nghĩa là tự mình
Bác ăn cắp thơ xong viết lại dở
Bác ghép chữ Hán tùm lum
Mĩ tửu (chữ mĩ sai không có trong từ Hán phải là Mỹ tửu = ruợu ngon )
Địch lai phóng khứ, nhất nhân hồi.
Đich lai phóng khứ
Đich lai = tạm chấp nhận (= quân địch đến )
Phóng khứ hơi bị guơng
phóng = buông thả .mở ra ,
ví dụ phóng hỏa ,phóng duơng (thả thuyền ra biển ) ,phóng sinh ,phóng đại ..v...vvv..
Nhưng chẳng ai nói là Phóng khứ bởi chữ khứ ở đây có nghĩa Khứ = đi ,cho qua ,bỏ qua
từ khứ thuờng đi chung (ex) khứ lai ,khứ hồi ,khứ niên =(năm ngoái ) Nếu guợng guợng mà hiểu là ..Địch đến đuổi đi thì hán tự ghép đầu gà đít vịt .
Nguời mà am tuờng tiếng Hán may ra mới hiểu .Song khó lòng chấp nhận
nên vế đầu của câu 4 hỏng về nghĩa ,về chữ dùng
Địch đến mà bỏ đi ,bỏ qua thì Bác Hồ đã là Phật
vế sau nhất nhân hồi thì đúng cái tâm của Bác rùi ...
Giết hết may lắm còn 1 thằng sống sót trở về
Câu thơ lấy sẵn nhưng khi trộn thêm gia vị không hẳn dễ nhất là từ Hán
Đúng ra phải viết theo từ hán không cố ghép guợng thì phải là
Địch lai phóng trục - nhất nhân hồi
phóng trục = đuổi ra ngoài = đúng từ Hán
hihi trong lúc chờ mấy chú công an mạng dzô bình loạn
Hương Tân mĩ tửu, dạ quang bôi
Dục âm tì bà, mã thượng thôi
Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu
Địch lai phóng khứ, nhất nhân hồi.
(HCM)
Xin họa thơ
Đạo văn từ trích thẳng tay bôi
Chữ nghĩa học hành chỉ thế thôi
Xấu tốt ,dở hay măc kẻ tiếu
Tuồng chèo một cõi trống liên hồi
Trên đuờng về nhớ đầy
Chiều chậm đưa chân ngày
Tiếng buồn vang trong mây ...
Chim rừng quên cất cánh,
Gió say tình ngây ngây
Có phải sầu vạn cổ,
Chất trong hồn chiều nay,
Tôi là người lữ khách
Mầu chiều khó làm khuây
ngỡ lòng mình là rừng
ngỡ lòng mình là mây
nhớ nhà châm điếu thuốc,
khói huyền bay lên cây.”
-
Nhan đề bài thơ này còn đuợc goi là Chiều đã đuợc nhạc sĩ Duơng Thiệu Tuớc phổ thành nhạc
Bản nhac đuơc giữ nguyên văn chỉ thêm (những câu lập lai thành điệp khúc nhấn mạnh )
và truyền tải những ý tình của thi sĩ đến với quần chúng
Xaquê - trở về là hai hoàn cảnh dễ mang đến những ray rức ,ngậm ngùi
Chốn xưa không hẳn đã còn nguyên vẹn ,chưa chắc đã giống như trong trí mình nghĩ suy
Tác giả không ngoài cái tâm trạng ấy ,hơn hẳn thế ,tác giả còn mang trong lòng một hoài niệm khó quên .Nếu ai đã từng đoc hết tập Quê Ngoại thì dễ nhận ra điều này .
Anh chàng ở lứa tuổi đầu đời đã yêu và đã phải than thở
Từ xưa ta đã hẹn ta rồi
Xuân sắc xa nhìn lưu luyến thôi
Là bạn chỉ nên là ban mãi
Đừng vuơng hoa buớm lụy cho đời
Ngay bài mở đầu của Tập thơ tác giả đã để bài Tặng này lên trang nhất
Em sẽ đi, và ta sẽ đi
Mai này ta chết giữa chia ly ....
-Mây Nam nếu lạc về phuơng Bắc
Xin nhớ đời thơ chẳng nghĩa gì
Les roses comme avant palpitent; comme avant
Xin dịch ý : Cánh hồng ơi ! ngàn truớc ngàn sau muôn đời lưu luyến
Tác giả đã muợn câu thơ của Paul Verlaine làm lời bạt viết sau bài mầu cây trong khói
Con nguời tôi gọi bằng em
Nhớ tôi nhưng cũng thành duyên lâu rồi
Mộng tàn nuớc chảy mây trôi
Tôi lui hồn lại nhưng đời đã xa .....
Quê nhà nỗi nhớ khát khao ,ngoài bờ đê ,ao cá những kỷ niệm bên giàn bí giàn trầu tô đậm một khoảng đời tuổi thơ .Ở đó còn có hình bóng nguời con gái
Ở đó còn một mối tình dở dang ,nghẹn ngào
Tâm sự đó ,hoài cảm đó
Khiến buớc chân nguời lữ khách thêm nặng nhọc ,những tiếng vang của những viên sỏi trì níu ,từng buớc ..từng buớc làm chậm thêm ,cái cảm giác của không gian dẫu không có tiếng vạc kêu ở lưng trời tác giả vẫn cảm giác ở đâu đó có những thanh âm trầm bỗng làm nên tiếng vang buồn
Trên đuờng về nhớ đầy
Chiều chậm đưa chân ngày
Tiếng buồn vang trong mây ..
Buổi chiều trời đã nhạt nắng - Hoàng hôn bao phủ ,ngày rồi phải nhuờng lại màn đêm ,Cả vạn vật duờng như muốn ngái ngủ ,Chiều là lúc chim về bên tổ ,hợp đàn nên bức tranh không có những cánh én ,chỉ có tiếng gió
Mang một tâm trạng luyến thuơng ,một nỗi lòng âm ỉ - nỗi nhớ Nguời nhớ quê ,khiến tác giả cảm thấy duờng như loài chim cũng đồng cảm với mình ,nên chẳng buồn cất cánh chỉ có ,gió lên tiếng với cái tình si của mình ,cái tình say ngất ngây .Gió ru ,gió hát và gió để lại những âm thanh réo rắc tích tụ thấm qua từng làn da ,thớ thịt vào tận cùng bên trong :
Chim rừng quên cất cánh,
Gió say tình ngây ngây
Có phải sầu vạn cổ,
Chất trong hồn chiều nay,
Quả đúng như Nguời xưa thuờng nói - Nguời buồn cảnh có vui đâu bao giờ .....
Trên cả nỗi buồn tha huơng ,là vết hằn tình yêu
Duới chân mỏi lối thu vàng
Tình xa lăm lắm ,tồi càng muốn yêu
=
Trở về để bắt gặp lại những cái dấu yêu ,Con nguời không phải là gỗ đá vô tri mà không biết rung cảm ,không thấy xót xa với những ngày dài viễn cách
Có mấy ai xa xứ mà không cảm thấy bồi hồi ,khi 1 lóang ,một mai ,dăm bữa nữa lại đặt chân lên miến đất yêu dấu ,kỷ niệm là dấu ấn khó phai ,không thể nhạt nhòa trong tâm khảm ,
Dù sự trở về có thể tô đậm thêm nét buồn ,
Trở về có thể chỉ là để ngỡ ngàng với những cái mất mát ,những thua thiệt trong cuộc sống
Môt nữ sĩ cũng phải thốt lên
Phố xưa nuớc mắt đong đầy
Vuờn hoa lối cũ giờ đây lạnh lùng
Tôn nữ hồng Hoa
hay
Hồn hoa cỏ ngậm ngùi xưa còn nhớ
Bờ dung nhan em dựng nuớc vơi đầy
Mầu mây chiều chìm sâu trong tấc dạ
Xuân với đời lây lất cánh chim bay
Mầu chiều ,mầu mây là những giải khăn trắng xám quấn ngang bầu trời .làm tăng thêm cái cảnh hoàng hôn vốn đã ảm đạm
Nguời ta dễ bị buồn ,dễ để hồn phiêu lãng ,phất phơ ,những si mê của đời nguời ,những hoang liêu rét buốt làm se lạnh đôi vai,những uớc mong ,những ảo tuởng đầu đời đã biến hóa con nguời thành những ngơ ngác bi thuơng .Tất cả những thứ ấy cô đọng lại thành một chữ buồn
Cái buồn của vạn cổ mà con nguời không ai tránh nổi
Tự ngàn thu kéo dài tận đến bây giờ
Tôi là người lữ khách
Mầu chiều khó làm khuây
ngỡ lòng mình là rừng
ngỡ lòng mình là mây
nhớ nhà châm điếu thuốc,
khói huyền bay lên cây.”
Khổ cuối của nhà thơ - không thoát khỏi cái thông lệ ấy ,cái mặc nhiên mà trời đã định ,
Đã ràng và buộc con nguời
Hơn hẳn nguời thuờng ,những nhà thơ thuờng mang trong mình 1 con tim đa cảm ,dễ xúc động truớc ngoại vật ,và cũng rất khó quên với mảnh tình si cuồng nhiệt
Có những nhà thơ đã thú nhận
Anh lại goi tên em cho đỡ nhớ
Anh lai goi tên em cho bớt khổ
Đời viễn xứ đêm nào anh không khóc
Nhớ thuơng em chưa dám ngỏ câu lời
hay
Bài thơ dang dở nhỡ nhàng
Trở thân ngơ ngác nỗi hàn bi thuơng
Trâm sanh nét bút vô thuờng
Nguyện làm rong bể xuống đời viễn du
Tuy nhiên với Hồ Dzếnh nhà thơ đã nghiệm ra cái sống của cuộc đời ,cái mất mát ắt hẳn phải có khi mang thân phận 1 con nguời
Câu kết cũng là câu chân lý ,là 1 câu thiền của nhà Phật
Nhớ nhà châm điếu thuốc Khói huyền bay lên cây
Cuộc đời con nguời ,từ cát buị rồi về với bụi tro
Danh vọng ,lầu son gác tía cũng chỉ là những ảo ảnh ,nhẹ và mong manh như làn khói ,Cuộc đới là những tảng đá đè nặng hay những bông hoa toả huơng tùy mỗi nguời nghĩ suy
tùy mỗi nguời thích ứng trong hoàn cảnh cuộc sống Dẫu sao Tác giả đã để lai nhân thế một bài thơ hay ,một tâm trang đầy vơi của những buớc chân hoang vô định và đầy tánh tài tử mà Nhạc sĩ Duơng thiệu Tuớc đã pha chế qua nốt nhạc
với cái tựa Chiều
Cả hai Thi Nhạc sĩ đã làm nung chảy biết bao con tim của những kẻ xa nhà ,lạc lỏng trên đất nguời Xin cảm ơn những tiền nhân ,những thế hệ đi truớc đã mang cái hoài cảm này đến vạn con nguời ,đã pha sắc xanh trên bầu trời để từ đấy len nhẹ vào lòng nguời ..và đứng mãi ở đó
Có phải cây đắng làm sao sinh trái ngọt,rau nào thì sâu nấy.?
Vũ Kiều Trinh: Kẻ cắp Siêu Thị ở Thụy Điển, Anh Quốc, lại là người nói về Văn hóa dân tộc của Đài VTV
Mỗi lần xem chương trình "Văn hóa dân tộc", của Đài truyền hình Việt Nam VTV, tôi lại cảm thấy nhức mắt. Bởi vì người phụ trách chương trình ấy luôn xuất hiện với cái vẻ mỹ miều, cặp mắt sắc xảo, và giọng nói rất đanh. Đó chính là Kiều Trinh. Dân mạng không còn lạ gì Kiều Trinh là con gái nguyên Uỷ viên trung ương đảng, Tổng giám đốc đài truyền hình Việt Nam Vũ Văn Hiến. Cô sinh năm 1975, nguyên phóng viên văn hóa Ban thời sự .
Năm 2001, Kiều Trinh được cử sang Thụy Điển 3 tuần. Ngay tuần đầu, ngày 11-2-2001, cô đã bị cảnh sát thành phố Kalmar bắt vì tội ăn cắp hàng trong siêu thị. Lúc đầu cô nàng chối bai bải, nhưng khi mở băng ghi hình thì phải cúi đầu nhận tội. Cô nàng đã ăn cắp ở Orebro, Kaimar số mỹ phẩm trị giá 400 đô la. Số tiền đó không lớn, nhưng ở Thụy Điển người ta trị ăn cắp, tham nhũng rất nghiêm, nên theo luật Kiều Trinh phải ngồi tù.
alt
Vì Kiều Trinh là con của Tổng giám đốc đài truyền hình Việt Nam, nên Đại sứ quán Việt Nam ở Thụy Điển phải ra taỵ. Và sau một tuần bị giam, ngày 16-2-2001, cô nàng được tha, sau khi có giấy của bác sỹ xác nhận nhận Kiều Trinh bị bệnh tâm thần từ Việt Nam gửi sang. Ngày 18-2-2001, Kiều Trinh bị trục xuất về nước. Đón cô ở sân bay, diễn viên điện ảnh Trần Lực đã tặng một cái tát, chấm dứt quan hệ vợ chồng từ đó
Ông Vũ Văn Hiến chả hề hấn gì sau sự kiện đó, vẫn đủ tiêu chuẩn vào Ban chấp hành trung ương đảng cộng sản Việt Nam,và tiếp tục làm Tổng giám đốc đài truyền hình Việt Nam. Cô con gái Kiều Trinh vẫn làm phóng viên của VT.
Năm 2006, Kiều Trinh được sang nước Anh công tác. Bệnh tâm thần lại tái phát và cô nàng đã thó chiếc máy ảnh kỹ thuật số trong shop. Một lần nữa ông Hiến lại phải cứu con gái bằng việc nhờ Đại sứ quán can thiệp và tờ giấy của bác sỹ chứng nhận bệnh tâm thần lại đưa ra sử dụng!
Năm 2009, Kiều Trinh được kết nạp đảng và được đề bạt làm Trưởng phòng văn hóa dân tộc Ban thời sự. Thật mỉa mai khi có những nhà báo chống tham nhũng tiêu cực , chỉ vì phạm một vài lỗi kỹ thuật nhỏ, thỉ phải vào tù, hoặc bị tước thẻ nhà báo, còn kẻ cắp con gái ông Ủy viên trung ương đảng, Tổng giám đốc đài truyền hình Việt Nam lại được đề bạt.
Từ bấy đến nay, một nghi án vẫn chưa có lời giải: Kiều Trinh bị tâm thần hay kẻ cắp?
Dư luận cho rằng, có lẽ ông bác sỹ nào đó được ăn, hoặc bị ép mới ký giấy chứng nhận bệnh tâm thần cho Kiều Trinh, vì nhìn hình ảnh chải chuốt óng mượt, và nghe cô nói sắc lẻm trên TV thì không ai nghĩ bị tâm thần cả. Mà nếu bị bệnh tâm thần thì đưa vào bệnh viện, chứ sao lại đưa lên làm MC trên TV?
Vậy chắc chắn là kẻ cắp!
Nước ta có 54 dân tộc, mỗi dân tộc có một nền văn hóa khác nhau, phong tục tập quán mỗi nơi một vẻ rất phong phú, đa dạng, nhưng tuyệt nhiên không hề có nền văn hóa và phong tục tập quán ăn cắp. Ăn cắp, ăn trộm, ở đâu cũng ghét, cũng khinh. Dù đói ăn vụng, túng làm liều mọi người vẫn chê cười chứ đừng nói tiểu thư con quan như Kiều Trinh. Vậy mà cô nàng không biết ngượng cứ xuất hiện trên TV nói văn hóa, đạo đức? Phải chăng quý vị muốn truyền bá cho dân thứ văn hóa ăn cắp và nghệ thuật chạy tội?
Nên nhớ, hình ảnh cô Kiều Trinh không thể bôi xóa được trong hồ sơ của cảnh sát Thụy Điển, Anh quốc, và nó đã được phơi ra cho nhân dân nước họ biết rồi. Họ sẽ nghĩ gì, khi ở Việt Nam, kẻ cắp lên mặt dạy đạo đức người lương thiện?
Nói như giáo sư Ngô Bảo Châu, nếu có hình ảnh nào làm nhục Việt Nam tốt nhất thì chính là hình ảnh cô Kiều Trinh trên TV.
-
alt
- Trần Đức Thắng
Con này có cái bệnh trời cho là Ăn cắp ..chứ thần kinh cái gì ? Thần kinh gì mà chôm đò khôn quá !..bệnh ăn cắp không bao giờ bỏ được ..hồi còn đi học tôi có thằng bạn con nhà giấu .khôi ngôi..thế mà chuyên môn ăn cắp vặt ..hở ra là chôm của người ta ..tôi có hỏi nó tại sao mày cứ lấy đò của người ta ? ..nó trả lời tỉnh bơ : tại họ không xài mình lấy xài đâu có gì ..hết ý kiến ..đây là cái bệnh quý vị ạ ..
Ta nhớ mầu quê ,khát gió quê
Mây ơi ngưng cánh đợi ta về
Cho ta trông lại từng xa thẳm
Ngâm lại bài thơ “Phuơng thảo thê”(*)
-
….
Ai hát mà nay gió vẫn thơm
Ai đau non nuớc não âm hờn
Chiêu Quân nếu mãi nguời cung Hán
Thi tứ tìm đâu nét tủi hờn
-
Mây ơi nếu tạt về phuơng Bắc
Chầm chậm cho ta gởi mấy lời
Từ thuở ly huơng ta vẫn nhớ
Nhưng tình ..Xa lắm gió mây ơi
Trích trong bài Tư Huơng
Tác Giả là nhà thơ mà tôi trân trọng nhất không riêng
bởi con chữ nồng nàn ,da diết cái tình của nhà thơ chẳng khác gì tiếng gió lúc nhè nhẹ như thầm thìLúc như cuồng phong gào thét ,
mà trong ấy luôn luôn chứa đựng cả một tấm lòng nguời với quê huơng với Mẹ .
Khoác cái áo lữ khách đa số đều cảm nhận đuợc thế nào là viễn du ,thế nào là trăn trở nỗi niềm
xa xứ , lìa đất Tổ
Hồ Dzếnh một nhà thơ của thời tiền chiến tên thật là Hà triệu Anh xuất bản đầu tay tập thơ Quê Ngoai
do nhà Á châu ấn cục ,Cái tên Hồ Dzếnh – Một cái tên của nguời Minh huơng đã làm rúng động báo chí thời ấy
(Lần đầu tiên thi ca Việt Nam ,đuợc tô điểm một cách trau chuốc ,bằng ngọn bút linh diệu của nguời Ngoại quốc
Báo Tri Tân một tạp chí chuyên về phê bình văn học đã . viết như sau :
Tên tuổi của nguời Minh huơng ấy ,văn học quốc ngữ không nề hà gì mà chẳng đón tiếp ,như đã đón tiếp bao nhiêu nhà văn thơ hữu tài.
Và một nhà văn trẻ tuổi – rất trẻ của thời ấy – Nhà văn Mai thảo đã ghi lại cảm xúc qua những hàng chữ sau đây :
Tập quê ngoại không hằn một nết nhăn – Với tôi tập thơ đầu tay phải như thế ,phải có cái khí thế vạm vỡ dám lao vào cuộc sống ,một tập thơ có cái vóc dáng bao trùm của một tình yêu dạt dào
(Việt nam thi nhân tiền chiến – Ấn hành Đông xuân (1943)
Quả thật trong suốt chiều dài của tập thơ Quê Ngoại – Tác giả đã đưa ta vào nỗi nhớ thuơng vời vợi
đưa ta đến những cánh đồng ,những con đuờng đê ,mái đình ngói đỏ bên con đuờng làng thắt đáy lưng tre
qua những câu lục bát thật giản di nhưng không kém phần ngát huơng
Làng tôi thắt đáy lưng tre
Sông dài cỏ muợt đuờng đê tứ mùa
Nhịp đời định sẵn từ xưa
Uơm tơ tháng sáu ,lên chùa tháng giêng
…
…
Tôi yêu – Nhưng chính là say
Tình quê Nam Việt bàn tay dịu dàng
Thơ tôi : Đê thắm ,buớm vàng
Con sông be bé cái làng xa xa
(Lũy tre xanh )
Hay
Cô gái Việt Nam ơi !
Nếu chữ hy sinh có ở đời
Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực
Cho lòng cô gái Việt Nam tuơi .
Tập thơ mở đầu đuợc ghi chú cẩn thận
Kính dâng Mẹ
Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa (ND)
Nhưng nói đến nhà thơ ,thì những bài đuơc ghi nhận ,nhắc nhở qua từng nốt nhạc đuơc nguời ta nhớ nhiều nhất
Mầu cây trong khói
ngập ngừng .v.v.v
Tôi tiếc 1 điều là tôi dốt nhạc
nên chẳng thể và không có khả năng tôi thích bài thơ Tình xưa của tác giả
dễ thuơng làm sao
ngọt ngào đến nhuờng nào
Tóc liễu xanh xanh vẫy tóc nguời
Tay em cầm nhẹ lấy tay tôi Lần đầu ân ái trao bằng mắt
Rồi để tình thuơng đến trọn đời
Anh đã già rồi em vẫn xuân
Đời anh dầu dãi bốn phong trần
Đôi phen trên buớc đuờng đau khổ
Anh vẫn mơ về chốn ái ân
ghi Chú :
Phuơng thảo thê thê anh vũ châu
Trích từ bài thơ của Thôi hựu
Hoàng hạc lâu
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ, Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
Lầu hoàng hạc
Người xưa cưỡi hạc đã lên mây,
Lầu hạc còn suông với chốn này.
Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn
Ngàn năm mây bạc vẩn vơ bay.
Vàng gieo bên Hán, ngàn cây hửng
Xanh ngắt châu Anh, lớp cỏ dày.
Trời tối quê nhà đâu tá nhỉ ?
Đầy sông khói sóng gợi niềm tây!
Anh trả lời em theo thứ tự
1)
Anh dùng chùa ở PTBucket
-------Anh tao mấy cái mail và đăng ký vào nó (dĩ nhiên nó biết song có thể nhiều nguời dùng chung 1 máy vì id giống nhau anh có 6 cái bucket này )
2)
nếu em có nhiều tấm hình mà chưa resize ,chưa bỏ vào bucket thì dễ lắm
....em set ở bucket phần tối đa kich thuớc mà em muốn ví du max=800- khi nó upload tự đông kích cỡ của em chỉ 800
còn nếu load rùi thì chiu phải làm từng tấm thui
Hoăc là create new folder (ví dụ image 2013 - ở phần này em set kích cỡ tối đa theo em chon
upload lai - giải pháp này là nhanh nhất )
3)
trên mang có nhiều progame resize convert (không trả tiền thì hạn chế .)
còn online thì cũng fải làm từng tấm
anh gởi em xem tùy ý (coi như tham khảo há )