 |
|
duchue
member
REF: 355834
06/07/2008
|
>>
xem chủ đề
Chương kết : Hôm qua và hôm nay
Chủ nhật. Đúng bẩy giờ, Nguyễn gặp Linh tại bến ca nô. Linh bảo anh đợi một lát để cô đi liên hệ mượn xuồng. Nguyễn vui vẻ gật đầu, đứng tựa lưng vào một gốc bàng bên bờ vịnh, mắt nhìn quang cảnh đông vui mhộn nhịp của bến thuyền nhưng đầu óc lại nghĩ ngợi linh tinh đủ thứ.
Mấy chục năm sống ở thành phố biển, đã không biết bao lần Nguyễn có dịp du thuyền ra vịnh, không chỉ tham quan vãn cảnh mà còn làm nhiệm vụ sưu tầm tìm hiểu vẻ đẹp thiên nhiên hay cuộc sống dân chài để viết bài cho báo. Chuyến đi nào anh cũng thấy trong lòng chộn rộn một niềm vui, như có cái gì đó đang đợi mình phía trước. Quả như thế thật, bao giờ ra vịnh, Nguyễn cũng tìm được một vài chuyện lạ để đưa vào trang viết. Nếu bây giờ học theo mấy bậc đàn anh được xem là viết năng suất nhất hiện nay, cất công thu gom toàn bộ những bài viết ấy, trong đó có những bài từng được người ta tuyển chọn vào các tập sách hay của một thế kỷ văn chương rồi đem in thành sách, dễ có đến ngàn trang chứ ít à, không chừng còn trở thành món ăn lạ miệng cũng nên ấy chứ! Nhưng vơ bèo vạt tép như vậy để làm gì nếu như rốt cục nó chỉ là một thứ văn phẩm tầm tầm, mô phỏng hiện thực nhằm minh họa cho một ý tưởng vĩ mô nào đó. Văn chương mà sa vào mô phỏng hiện thực sẽ trở thành cái bóng của hiện thực, và người viết sẽ trở thành cái bóng của những ai ai đó, chứ không còn là chính anh ta. Cố nhiên đây cũng là một cách thể hiện và nếu ai còn tự nguyện thì càng tốt, song cũng còn nhiều cách làm khác cũng nên chấp nhận. Văn chương cũng giống như tình yêu, không thể và không nên ép buộc. Sự ép buộc sẽ làm thui chột tài năng, thủ tiêu cá tính, làm công chức hóa cả một lớp người cầm bút, làm cho những tác phẩm văn chương lẽ ra có thể sáng giá hơn lại chỉ dừng ở mức văn học của một thời.
Gần đây người ta hay bàn về giá trị đích thực của văn chương, về cái tâm và cái tài của người cầm bút. Người cầm bút không chỉ phải có tài mà còn phải có tâm, hiển nhiên là vậy. Nhưng nếu chỉ thế thôi thì chưa đủ. Nguyễn cho rằng đối với mỗi đời văn, cái cần hơn, cao hơn là cái Đức Tin. Vấn đề là tin ở cái gì? Nếu sự sáng tạo nghệ thuật luôn thuộc về nhân loại thì đức tin của kẻ viết cũng phải cao hơn cái lẽ thường. Phải biết tin vào sự quân bình tuyệt đối của vạn vật được tạo nên do một quyền năng nào đó. Điều này tưởng rất vu vơ nhưng vô cùng ứng nghiệm, xác xuất không sai là mấy. Nó rất gần gũi với thuyết "Nhân quả công bằng" trong đạo Phật. Không phải nhân quả theo logic thông thường, hữu hình hữu hạn mà vươn tới cái chân ngã thâm diệu, xuyên suốt thời gian xuyên suốt không gian. Khi có được đức tin như vậy, kẻ viết sẽ vượt thoát được vòng cương tỏa của tham vọng và ngộ nhận, sẽ biết cách gìn giữ hay loại bỏ những gì mình gặp trên đường, sẽ không phải băn khoăn hối tiếc gì về cái mất hay cái được của mình trên con đường vận hà trong cái thế giới quân bình đó. Và hạnh phúc hơn, sẽ luôn giữ được cái tâm ngay cả khi phải chịu nhiều khổ nạn, để không dùng những mánh lới, thủ đoạn tinh vi học được ở đời nhằm mưu cầu lợi ích riêng mà chỉ phơi bày nó lên trang viết như một kinh nghiệm sống của mình tâm sự cùng bạn đọc. Phải chăng những trang văn đích thực chỉ có thể ra đời khi kẻ viết có được đức tin như thế?
Dòng suy nghĩ bị cắt ngang khi chiếc xuồng máy vè vè chạy đến. Nguyễn quay đầu nhìn xuống quãng nước sâu, thấy Linh đang ngước lên cười. Nhìn cô Nguyễn không khỏi ngạc nhiên, không biết cô kiếm đâu ra bộ đồ thể thao trắng tinh, vận trên người, trông giống cô Linh trong tác phẩm của anh như hệt. Và nụ cười của cô cũng như muốn hỏi:"Xem này, em có giống cô nàng ấy của anh không?"
Thấy Nguyễn đứng ngây ra, Linh vui vẻ giục :
-Xuống đi anh, đi vòng qua bậc đá bên này. Cẩn thận không té đấy!
Khi Nguyễn đã ngồi yên vị sau tay lái, Linh khéo léo cho xuồng lượn một vòng rồi quay mũi hướng ra phía đảo. Cách họ không xa, một chiếc ca nô chở khách tham quan cũng bắt đầu rời bến. Mấy vị khách nước ngoài to béo đứng trước mũi tàu, giơ máy quay phim dõi theo chiếc xuồng của Linh và Nguyễn. Chắc họ quay chơi chứ không phải dân chuyên nghiệp, máy quay phim bé tí.
- Ra đảo nào đây anh?
- Hòn Cánh Chuồn. Chỗ người ta vừa phát hiện ra một hang động mới.
- Anh nhặt được cuốn sổ tay ở đấy à?
- Ừ. Hôm đi với đoàn của sở Văn hóa vào hang, lúc quay ra nhặt được, hỏi cả đoàn chẳng ai nhận cả. Có người mách rằng trước đó có một đoàn khảo cổ về đây, chắc là...
-Nhưng theo câu chuyện anh kể thì chẳng ăn nhập lắm, ở đó có nhân vật nào đi khảo cổ đâu?
-Thế mới khó! Đành phải cầu may vậy.
Hòn Cánh Chuồn hiện ra sau khúc ngoặt. Nó đứng riêng một mình, cách khá xa những hòn đảo khác, trông xa hơi giống cái mũ quan. Đó đây thấp thoáng những cánh buồm lờ lững. Linh ghé xuồng vào chân đảo, neo lại và bảo Nguyễn:
-Anh lên đi. Em ngồi đây đợi. Còn phải trông xuồng chứ!Nguyễn gật đầu, xắn quần lội nước, leo lên đảo. Đến cửa hang thấy một thanh niên đang ngồi đọc sách. Cậu ta ngó ra nhìn, khẽ reo lên:
-Chú Nguyễn!
Nguyễn nhận ra đó là cậu nhân viên Ban quản lý vịnh, cách đây ít hôm anh có dịp đi cùng. Cậu ta cho biết từ hôm người ta phát hiện ra hang động mới này, cậu được Ban quản lý cử ra đây bảo vệ. Nguyễn nhìn chàng trai trẻ, khẽ mỉm cười
- Chắc trong này có một kho báu?
- Kho báu gì đâu chú. Cháu vào chỉ thấy toàn đá đầu sư, mà xem ra cũng chẳng lấy gì làm đẹp. Lối vào thì ngoắt nghéo quanh co, tối như hũ nút. Chẳng có gì mà các sếp cứ bắt cháu phải ra đây trực, suốt ngày ngồi giữ như mả tổ, buồn muốn khóc! Thế chú lên có việc gì vậy, sao lại chỉ đi có một mình?
- Chú muốn xem lại cái hang một chút, để viết bài cho nó chuẩn.
- Vậy để cháu đưa chú vào xem.
Nguyễn theo chàng trai trẻ vào hang, nhờ cậu ta dọi đèn nhìn lại cái khe giữa hai tảng đá, nơi anh nhặt được cuốn sổ tay hôm nọ. Vẫn chỉ là hai tảng đá lồi lõm xù xì, chẳng có gì đặc biệt, vậy mà anh cứ soi đi soi lại mãi khiến chàng trai đứng cạnh phải bật cười. Không lẽ ông nhà báo này định đặc tả hai hòn đá?
Loanh quanh một lát, hai người quay ra chỗ cửa hang. Nguyễn hỏi chàng trai từ hôm ra trực, có thấy ai trong đoàn khảo cổ quay lại đây không. Cậu ta lắc đầu. Nguyễn trao đổi với cậu ta số máy di động, dặn rằng nếu có ai đến hang này định tìm kiếm vật gì thì gọi ngay cho chú. Sau đó anh quay xuống chỗ Linh. Cô hỏi giờ anh còn định đi đâu nữa. Nguyễn khoát tay cười:
- Đi picnic!
- Anh định đi picnic ở đâu nào?
- Tùy em. Đâu cũng được.
- Hay là ra đảo Không Tên?
Linh cười trêu Nguyễn. Anh cũng mỉm cười, đáp rằng cái này chắc chỉ có trong tưởng tượng. Tốt nhất là bây giờ ta đến một hòn đảo gần đây, ở đó người ta vừa dựng lên một nhà hàng, chuyên phục vụ khách tham quan bằng những món ăn đặc sản. Ngồi trên đó vừa ngắm cảnh vừa thưởng thức các món ăn tươi của biển thì tuyệt lắm. Linh gật đầu đồng ý. Cô với tay kéo cần máy một cách thuần thục. Tiếng máy nổ giòn. Chiếc xuồng quay mũi lao đi. Nguyễn ngồi phía sau lặng ngắm Linh. Mũ Kepi trắng, quần sooc trắng, đôi giầy thể thao cũng trắng bong, như một vận động viên thực thụ. Mỗi khúc ngoặt là một lần Linh được dịp trổ tài. Cô nghiêng người rất điệu, cho xuồng lượn bên mép đảo, lách qua các khe trống giữa hòn này với hòn kia một cách cực kì thiện nghệ, để lại sau lưng một vệt sáng ngoằn ngoèo. Một lần nữa, Nguyễn lại nhận thấy hai cô Linh, trong sách và ngoài đời, giống nhau như hệt. Giờ mà tự dưng bắt gặp cái cồn đá ấy thì...
Chợt linh cho xuồng đi chậm lại, gần như dừng hẳn.
- Có chuyện gì thế?
- Từ từ để em xem. Hình như không phải lối này.
Hai người đưa mắt nhìn quanh. Bốn bề đảo đá vây kín mít, tưởng đâu lọt vào một mê cung bí hiểm.
- Anh chị lạc đường à?
Một người đàn ông không biết từ đâu xuất hiện, đứng trên vách đảo.Nhìn ông ta Nguyễn giật mình sửng sốt, đến nỗi khắp người nổi gai lên. Ông ta giống hệt gã "thầy bói hiện đại" mà anh gặp trong giấc mơ hôm nọ, nhất là bộ đồ hộp vận trên người. Mũ phớt, comple, calvat, những thứ mùa này không ai mặc.
- Chào anh! - Không rời mắt khỏi ông ta, Nguyễn cất tiếng chào và dè dặt hỏi
- Nếu tôi đoán không nhầm thì anh là nhà khảo cổ?
- Đúng vậy! Tôi chuyên đi tìm hiểu về các hang động ở vùng này.
Nguyễn và Linh đưa mắt cho nhau. Lại hỏi:
- Nghề khảo cổ chắc rất nhiều thú vị?
- Vâng, rất nhiều điều thú vị.
- Và anh sẽ thường xuyên ghi Nhật ký?
- Vâng, phải ghi Nhật ký thường xuyên.
Nguyễn và Linh lại đưa mắt cho nhau. Lại hỏi:
- Vậy có bao giờ anh để quên Nhật ký của mình không?
- Không bao giờ! Nhật ký khảo cổ mà quên thì chết.
- Ồ không! Tôi muốn hỏi về Nhật ký cá nhân kia, loại Nhật ký viết về đời tư ấy?
- Nhật ký đời tư à? Cái đó dành cho cánh thanh niên. Họ còn lãng mạn, nhiều mơ tưởng, còn tôi thì... Với lại dân khảo cổ chúng tôi sống đơn giản lắm, quanh năm ngày tháng chỉ lầm lũi đi tìm lại ngày xưa, có tâm sự gì đâu mà phải ghi Nhật ký!
Nguyễn và Linh lại đưa mắt cho nhau. Lại hỏi:
- Anh đi nhiều như vậy, có biết đảo Không Tên ở chỗ nào không?
Nhà khảo cổ gật đầu, chỉ tay vào một ngách con giữa hai hòn đảo :
-Nó ở đằng kia. Anh chị cứ theo lối đó mà đi, lúc nào thấy hiện ra một cái hồ thì chính là nó đấy!
Nguyễn mừng suýt reo lên, nhưng kìm lại được. Anh cám ơn nhà khảo cổ, khẽ bảo Linh lái xuồng về phía đó. Quả nhiên như vậy, sau khi rẽ qua cái ngách con mà ông ta vừa chỉ, chiếc xuồng thoát ra một quãng biển khá rộng dài và chỉ mươi phút sau đảo Không Tên đã hiện ra trước mắt, giữa vùng non nước mênh mông. Gần đó có bãi tắm tự nhiên rất đẹp, được bao bọc bằng nhiều đảo đá nối tiếp nhau như bức tường thành, tạo nên một cái hồ khá rộng. Chỉ khác là cái cồn đá giữa hồ, được mô tả như một đài hoa, trên đó có thảm cỏ xanh tươi tốt cả bốn mùa, thì không có. Linh cho thuyền lượn qua lượn lại mấy vòng nhưng tuyệt nhiên chẳng thấy đâu, không biết nó nằm ở chỗ nào.- Anh chị tìm gì vậy?
Tiếng nhà khảo cổ lại vang lên. Nguyễn và Linh giật mình, ngoảnh lại đã thấy ông ta đứng trên vách đảo ngay gần đó. Linh hoảng quá, vội cho xuồng dừng lại, còn Nguyễn thì bình thản thản như thường. Không hiểu sao anh có cảm giác ông ta gần gũi với mình như một người thân, một người bạn tốt. Anh gật đầu chào và hỏi ông ta :
- Theo chỗ tôi biết thì ở đây còn có một cồn đá nằm ở giữa hồ, phải không anh
- Đúng vậy!
- Sao không thấy nhỉ?
- Nó bị người ta phá mất rồi.
- Ai phá kia, mà sao lại phá?
- Đó là cả một câu chuyện dài, tôi chỉ xin tóm tắt mấy lời để anh chị biết. Cách đây lâu lắm rồi, từ trước thời ta chống giặc Nguyên Mông cơ, trên hồ này đã từng có cái cồn đá ấy, gọi là hòn Đài Hoa, vì thế dân làng cũng gọi hòn đảo mình đang sống bằng cái tên như vậy.Nhưng rồi có một chuyện xảy ra khiến nó không tồn tại nữa. Trên làng đảo kia có một cô gái cực kì xinh đẹp. Nàng yêu một chàng trai đánh cá nhưng cha mẹ nàng không thuận vì muốn gả nàng cho con trai ông chúa đảo. Cô gái thà chết chứ không chịu nghe theo. Đúng vào đêm cưới, nàng cùng người yêu bí mật trốn ra cồn đá giữa hồ, trong làng hai họ truy tìm suốt đêm không được, mãi sau mới phát hiện ra hai người ở trên cồn đá, và dĩ nhiên họ đã thành thân. Điều đó khiến cha con ông chúa đảo vô cùng tức giận, lập tức cho quân lính bủa vây bắt bằng được hai người. Một trận chiến nổ ra vô cùng ác liệt. Rút cục cô gái và chàng trai đều bị trúng tên chết cả. Nhưng ông chúa đảo vẫn chưa nguôi giận, ông ta cho lính vào đất liền chở ra hàng thùng thuốc nổ, phá tan cồn đá. Từ đó hòn Đài Hoa biến mất. Đài Hoa mất thì tên làng cũng mất, người ta liền gọi đảo này là đảo Không Tên.
- Lạ nhỉ? Thế còn...
Nguyễn định hỏi thêm điều gì đó nhưng ngẩng lên thì nhà khảo cổ đã biến đi đằng nào mất. Một vệt nắng chiếu thẳng vào chỗ ông ta đứng. Vách đá phảng lì, phản quang như một tấm gương.
Linh khẽ thốt lên :
-Cái ông này! Sao cứ như ma ấy nhỉ?
-Nguyễn nhìn đồng hồ:
- Mới có mười giờ kém. Em chịu khó giúp anh chút nữa được không? Anh muốn lên đảo Không Tên xem nó thế nào.
Linh nghe theo, hướng mũi thuyền lên đảo. Một lát sau Nguyễn đã có mặt trên trảng cát. Càng đến gần anh càng thấy lạ. Không thấy xóm chài đâu, trước mắt anh là một rừng thông bạt ngàn, nối tiếp nhau trùng điệp, ngoài ra tất cả đều vắng lặng, không có lấy một ngôi nhà. Lên tới đỉnh đèo mới thấy từ bãi biển bên kia xuất hiện một đám đông. Nguyễn lại gần, nhận ra đó là một đám thanh niên, có đến năm sáu chục em, đang xúm quanh một chiếc tàu mắc cạn từ lâu lắm, Thân tàu đã han gỉ hết, nửa sau lún sâu trong cát, chỉ còn mỗi cái mũi tàu ngỏng lên trời. Con tàu hỏng không làm Nguyễn ngạc nhiên, thi thoảng đi biển anh vẫn gặp. Điều anh chú ý hơn là bọn trẻ, xem ra chúng đến từ nhiều nước trên thế giới, đủ các màu da, các kiểu áo quần, làm sáng cả một vùng biển đảo. Thoáng thấy anh, một cô bé reo lên:
- Cháu chào chú nhà báo ạ!
Nguyễn để ý nhìn, nhận ra đó là một cháu gái ở gần nhà anh, hiện đang học trường gì đó ở nước ngoài.
- Chào cháu! Nghe nói cháu đi học nước ngoài kia mà, sao lại về đây?
- Vâng, cháu đang học ở trường Havard, hè này được đi dự Festival Quốc Tế, sau đó được cử đưa các bạn về đây, tham quan vịnh ít ngày chú ạ!
- Tham quan vịnh thì phải vào các hang động chứ, sao lại đưa các bạn đến xem chiếc tàu hỏng làm gì?
Cô bé cười như nắc nẻ
-Hang động chúng cháu vào xem rồi, xem cả rồi. Chỗ này chúng cháu chỉ tình cờ rẽ qua thôi. Với lại nghe chị hướng dẫn viên du lịch nói con tàu này là một chứng nhân lịch sử nên khi về đến đây, chúng cháu mới đề nghị rẽ vào xem đấy chứ!
-Nguyễn gật đầu, vui vẻ nhìn bọn trẻ. Những gương mặt tươi sáng thông minh, tràn đầy sức sống, trong đó có một cô bé tóc vàng, vài cậu bé tóc xoăn, rõ là người Âu, Mỹ nhưng lại nói tiếng Việt rất cừ. Thấy Nguyễn chăm chú nhìn đám bạn mình, cô bé ở gần nhà anh liền giải thích:
- Đây là các bạn học cùng trường với cháu. Bạn này là Linh Chi, bố bạn ấy là người Nga, mẹ là người Việt. Bạn này thì bố là người Việt, mẹ là người Pháp. Bạn này là người Mỹ gốc Việt. Còn bạn này...
Một cái gì như cơn sóng bất ngờ trào lên trong Nguyễn khiến tim anh đập mạnh. Anh toan lại gần cô bé Linh Chi hỏi chuyện, chợt có tiếng còi tập hợp vang lên. Lũ trẻ ríu rít chào anh rồi chạy ào đi như một đàn chim để rồi ngay sau đó, khi chúng tụ tập ngoài cửa bến, nơi có chiếc ca nô chở khách tham quan đang chuẩn bị quay đầu, lại biến thành một vườn hoa rực rỡ. Chúng là hiện thân của tương lai nhưng đồng thời là hình ảnh của quá khứ. Nhìn chúng, trong đầu Nguyễn liên tiếp hiện ra những gương mặt, những cảnh đời, những số phận cùng những nỗi niềm ẩn giấu từ bao tháng năm qua, như những gì anh nhận biết từ cuốn sổ tay nhặt được tại một di chỉ khảo cổ. Phải chăng cái vườn hoa tuyệt đẹp kia, vốn được ươm trồng từ những khổ đau mất mát, chính là hình ảnh thu nhỏ của "ngôi nhà chung thế giới", điều mà, như người ta nói, tất yếu diễn ra trong lộ trình nhân loại.? Liệu rằng nó có diễn ra không, có diễn ra không, có diễn ra không hay chỉ là mơ ước hay tệ hơn, chỉ là một trò bịp bợm của con người? Phải rồi, hãy học cách hoài nghi như Maxk, để không phải hối về sau...
Nguyễn quay đầu nhìn lại con tàu mắc cạn. Không biết nó nằm ở đây tự bao giờ và vì sao lại nằm đây? Có vô vàn nguyên nhân dẫn đến sự kiện này. Dù sao nó vẫn là một chứng nhân lịch sử, một lời cảnh báo lặng câm cho những cuộc hành trình sai lệch không chỉ của hôm qua...Lòng rưng rưng một niềm cảm khái, Nguyễn giơ tay chào con tàu hỏng rồi lặng lẽ quay về bãi biển bên kia, chỗ Linh đang neo xuồng ngồi đợi. Nhưng lúc nhô ra khỏi rừng thông, anh hết sức ngạc nhiên vì chẳng thấy Linh đâu nữa. Cô ấy đi đâu nhỉ? Lại mang theo cả cái túi xách tay, trong đó có cuốn Nhật ký của mình nữa chứ! Nguyễn đưa mắt nhìn quanh, bốn bề vắng lặng, không bóng một con thuyền. Chỉ có tiếng sóng đang ào ạt xô bờ. Và biển xanh, mây trắng...
Nguyễn ngẩn ngơ nhìn trời nhìn biển, ngỡ như mình đang sống trong mơ. Hay tất cả chỉ là một giấc mơ? Tất cả những gì mình đã gặp trong mấy ngày qua, cả trong mơ lẫn ngoài đời, cả cuốn Nhật ký tình cờ nhặt được để tạo nên tác phẩm. Tất cả... Chỉ là ảo vọng mà thôi?
|
|
duchue
member
REF: 355830
06/07/2008
|
>>
xem chủ đề
Chương 19 : Sao sớm sao chiều
Sao Mai lấp lánh hiện lên tự lúc nào. Không phải một vì sao. Một viên ngọc Minh Châu gắn trên đỉnh tháp vô hình. Không phải. Một cái gì đó thật tinh khôi, trong trẻo và rạng rỡ, như môt sinh linh mới ra đời. Sự xuất hiện của nó làm cho cả bầu trời xao động. Những vì sao khác suốt đêm chen chúc trong giải Ngân hà, lúc này như hoảng sợ trước một thứ thần lực lạ lùng tỏa ra từ nó, đã lần lượt biến đi, trở nên thưa vắng, dần dần chỉ còn một vệt sáng mờ, như một làn sương mỏng.
Nhưng ở dưới này vẫn im lìm. Biển lặng.
- Thế bây giờ anh sống ra sao?
- Bây giờ anh sống chung với Quế.
- Chị Quế vợ anh Sanh á? Sao lại...
- Sanh bị tai nạn chết. Thật đau buồn.
Im lặng hồi lâu. Cả hai ngước nhìn ngôi sao sớm. Hình như nó cũng đang run rẩy.
Đó là mùa tuyết rơi. Mùa tuyết rơi. Hồi mới sang sao mà anh thích thế. Chỉ một đêm mưa tuyết, sáng hôm sau cảnh vật quanh mình trở nên khác hẳn. Cả thành phố như được thay áo mới, nhìn ngôi nhà nào cũng sáng long lanh. Đấy cũng là thời điểm mà người ta thi nhau trưng diện, nhất là phụ nữ, họ đắp lên người đủ loại váy áo đắt tiền, trông cô nào cũng lộng lẫy, sang trọng như bà hoàng. Vào thời đó công ty anh đang làm ăn phát đạt, thị trường vươn ra khắp châu Âu, không khí trong ngoài rất rộn ràng và mọi thành viên đều ngày càng trở nên khá giả. Bước ra đường không ai phân biệt được đâu là người làm công, đâu là ông chủ. Tất cả đều ăn mặc đẹp và có xe riêng. Mấy chú em cùng đi với anh hồi đó đều đã lập ra đình, người ở chung cư, kẻ mua biệt thự, đàng hoàng lắm. Nhưng anh đang nói về cái mùa tuyết rơi năm ấy. Đã bao mùa tuyết rơi làm anh vui thích, còn năm ấy, và cả đến bây giờ, anh vẫn căm thù nó vô cùng. Nó đã cướp đi người bạn tốt nhất của anh, của Quế và cháu nhỏ, của Út Cường, Năm Sẹo và cả cộng đồng người Việt sống bên đó nữa. Tai nạn xảy ra thật bất ngờ. Hôm ấy như thường lệ, Sanh lại cùng cô Kế toán trưởng và mấy người nữa đi giao dịch với bạn hàng. Lúc đi thì không sao, mọi chuyện đều ổn cả. Chẳng may lúc về gặp một cơn mưa tuyết. Đường trơn, xe qua đèo dốc, bất thình lình quay tít rồi lăn xuống vực. Nếu mưa từ đêm trước, tuyết phủ dầy khắp cả thì có lẽ không sao, đằng này lượng tuyết không nhiều, xe lăn không có tảng băng nào cản lại. Anh không được chứng kiến cảnh này, nhưng nghe kể lại rằng chiếc xe đã lăn nhiều vòng xuống vực sâu và tất cả đều bị thương rất nặng, riêng Sanh nặng nhất. Khi người ta tập trung đến cứu, đưa về bệnh viện được một ngày thì anh ấy mất. Trước khi nhắm mắt, Sanh cầm tay anh, dặn rằng hãy thay anh ấy lãnh đạo công ty và chăm sóc Quế cùng cháu nhỏ. Trong cuộc đời mình, anh đã phải vuốt mắt cho bao đồng đội, nhưng bao giờ cũng cố nén lòng, cho nước mắt chảy vào trong, nhưng lúc đó anh không thể nào nhịn được, anh bật khóc nức lên, đau đớn vô cùng.
Người ta thường bảo cha nào con nấy, nhưng trong trường hợp của Sanh anh thấy hoàn toàn ngược lại. Bố anh ấy là một sĩ quan Ngụy, một tên ác ôn khét tiếng, nhưng anh ấy lại là một con người vô cùng thánh thiện, một ông chủ lớn có tầm nhìn xa rộng, một người bạn, người chồng, người cha cực tốt. Là nhà kinh doanh nhưng anh ấy lại có tư chất của một chính khách, tư thế tác phong lúc nào cũng đàng hoàng, khảng khái và độ lượng. Không chỉ riêng anh và bà con cộng đồng người Việt ở Paris mà ngay cả Francois cùng các cộng sự của ông đều rất nể trọng Sanh. Nhờ có anh ấy mà công ty anh ngày càng trở nên nổi tiếng và phải nói, phất như diều. Bây giờ anh không muốn tả lại cái đám tang buồn thảm ấy. Nghi lễ tiến hành theo phong tục Việt, mời một nhà sư đến lập đàn cầu siêu chứ không hành lễ như cha đạo. Đấy là ý nguyện cuối cùng của Sanh và bọn anh đã thực hiện việc này bằng mọi giá. Thương Quế và cháu nhỏ vô cùng. Bạn hàng của công ty đến khá đông, Francois và Lyda cũng đến. Lâu lắm rồi anh mới gặp Lyda, không biết cô đã lấy chồng chưa hay vẫn sống theo cách của mình. Nhưng lúc bấy giờ anh chẳng còn bụng dạ nào nghĩ đến cô ấy nữa. Trong lòng ngổn ngang trăm mối, còn lo không gánh vác nổi sự nghiệp mà Sanh đã dày công gây dựng. Phải đến hàng tuần sau anh mới bình tâm lại để tập trung vào công việc. Lúc đầu anh đề nghị với Hội đồng quản trị mời Quế ra thay Sanh giữ vai trò làm chủ công ty, nhưng Quế không nghe, cô nói rằng khả năng có hạn, nhờ anh lo giúp. Cô chỉ xin làm việc gì đó cho khuây khỏa. Anh đành bố trí cho Quế làm hành chính, rồi tối tối lại cùng Năm Sẹo, Út Cường và mấy chú em qua lại thăm nom. Cho đến khi cải táng cho Sanh xong xuôi đâu đấy, anh mới về chung sống với mẹ con cô ấy. Rồi ít lâu sau bọn anh có thêm cháu thứ hai, kém con chị nó đúng mười hai tuổi. Bây giờ cháu mới lên mười.
- Trai hay gái?
- Trai.
- Vậy là anh có hai con trai đấy nhé!
- Cám ơn em. Anh có tội lớn đối với em và con, thật không biết lấy gì bù đắp được.
- Anh lại nói thế rồi!
- Bây giờ nó thế nào, vào đại học năm thứ nhất rồi ư? Tốt rồi! Cám ơn em nhiều lắm. Còn em? Những năm qua em sống ra sao, vẫn ở với Thạc à, lạ nhỉ?
Hai người lại im lặng hồi lâu. Mãi sau mới nghe tiếng chị, giọng buồn buồn như tiếng mưa rơi trên trảng cát.
Thật khó mà lý giải cho rành rẽ vì sao em sống được với anh ta bằng ấy năm trời. Có những cuộc hôn nhân phi tình yêu nhưng người ta vẫn sống với nhau mà bên ngoài vẫn tưởng họ vô cùng hạnh phúc. Trường hợp em với Thạc cũng vậy, nó như một trò đùa của số phận. Trong cảnh “đồng sàng dị mộng”, cả hai đều hiểu rằng chỉ dựa vào nhau mà sống đó thôi chứ tình cảm đâu có còn gì nữa. Em sống vì hai đứa con em còn anh ấy vì cái ghế của mình. Những năm tháng ấy, không lúc nào em được sống đúng mình, em hoàn toàn không phải là mình mà là một con người khác, hệt như một vai diễn trên sân khấu nhưng khó hơn nhiều vì nó nằm trong một vở diễn mà mình chưa hề được đọc, không hề biết những gì sẽ diễn ra nhưng vẫn phải nhập vai cho thuần thục, phải tự thích ứng với những tình huống không định trước, nhiều khi hết sức bất ngờ. Tuy nhiên em đã sắm vai rất đạt, nhất là những khi cùng anh ấy tiếp các vị khách sang hoặc đi dự những cuộc tiệc tùng lớn nhỏ. Trước khi bước lên cái sân khấu đó, bao giờ em cũng trang điểm rất cầu kỳ, mỗi lần diện một bộ cánh khác nhau tùy theo từng đối tượng từng phông cảnh để tỏ rõ vai trò của một ‘Đệ nhất phu nhân” làm anh ấy rất hài lòng. Cũng nhờ đó mà em biết được khá nhiều điều không phải ai cũng biết, từ những cuộc luận bàn quốc kế dân sinh cho đến những trò ma giáo chốn quan trường. Có nhiều việc anh ấy và những người thân tín của mình không bàn trước công đường mà mưu tính tại nhà riêng, em chứng kiến mà thấy sợ. Kinh nghiệm của em trong chuyện đó là hễ người nào không bao giờ có mặt tại nhà em nhưng lại luôn được nhắc đến tại nhà em tức là người bị anh ấy coi là đối thủ. Đành rằng bất kỳ ai ở lĩnh vực nào cũng có đối thủ của mình, có thể xem đó như một thứ quy luật cạnh tranh, nhưng sự trớ trêu ở chỗ hầu hết các đối thủ của anh ấy đều là đồng chí của anh ấy và phải nói họ là những người trung thực, có tài. Giá mà anh ấy biến họ thành người cộng sự của mình thì tốt biết bao, đằng này lại dựng lên rất nhiều rào cản, sai chân giở đủ các trò ma mãnh đê hèn, tung tin thất thiệt để nếu không làm gì được người ta cũng làm cho người ta bị tai tiếng một phen, mục đích là khiến họ không sao vượt được lên hoặc bị vô hiệu hóa. Trong khi đó những người anh ấy trọng dụng phần lớn là những kẻ bất tài, suốt ngày xun xoe nịnh bợ, chỉ nhìn mặt em đã ghét. Chính bọn này đã bí mật đón cô “bồ nhí” của Thạc từ huyện xa về và mua cho cô ta một ngôi biệt thự vào loại đẹp nhất trong thành phố. Bấy giờ cô ta đã sinh cho Thạc một đứa con trai. Em chỉ nghe thế chứ không biết mặt và phải thú thực rằng đôi lúc em cũng tức, mấy lần định chia tay Thạc nhưng nghĩ đi nghĩ lại, lại thôi. Đang yên đang lành lại đem rũ tung ra thì mệt lắm. Riêng Thạc thì rất sợ điều này, to chuyện ra để thiên hạ biết thì mang tiếng chết. Bởi thế anh ấy luôn tìm cách xoa dịu, lấy lòng em, cốt sao giữ nguyên hiện trạng. Nghĩ thật nực cười.
Có một chuyện mà em cứ suy nghĩ mãi, không biết có phải đó là quả báo không. Chuyện có liên quan đến ma túy. Vâng, ma túy, cái mà người ta gọi là “căn bệnh thời đại” ấy mà. Một lần bà chị cả em dẫn đến một cô gái đem theo một túi tiền lớn, toàn đô la, trị giá hàng tỷ đồng tiền Việt. Đàn bà ai thấy tiền chả thích, nhưng em không nhận, lấy cớ Thạc không có nhà, không dám quyết. Thực ra nếu anh ấy có nhà em cũng sẽ tìm cách ngăn bằng được. Đây không chỉ là việc làm nguy hiểm mà còn vô cùng thất đức. Cô gái kia đến chạy tội cho chồng vì hắn đứng đầu một nhóm Maphia, buôn hàng lậu và ma túy từ nước ngoài vào, vừa bị công an bắt. Việc gì chứ việc đó thì chạy làm sao được? Thấy em tỏ thái độ không đồng tình, cô ta khóc lóc van xin, còn bà chị cả em thì nhỏ to thuyết phục, bảo rằng đây là chỗ họ hàng bên chồng chị, nhờ dì ra tay cứu giúp. Chỉ cần dì nói với chú Thạc một câu, bảo chú ấy gọi điện cho người ta một tiếng là xong chứ có gì mà. Em kiên quyết lắc đầu, nói rằng chưa bao giờ em can thiệp vào chuyện của chồng, mà có nói anh ấy cũng chẳng bao giờ chịu nghe đâu, xin chị đừng ép em, vô ích. Nói đi nói lại mãi không xong, bà chị cả em giận dỗi đứng lên, kéo cô gái kia về :”Thôi được rồi, nếu dì không giúp thì tôi sẽ mách cho cô chỗ khác!”
Anh có biết cái “chỗ khác” đó là chỗ nào không? Vâng, chính là cô ấy, cô vợ hai không chính thức của ông Hoàng Thạc. Từ dạo cho người đón mẹ con cô ấy về đây, Thạc đã đầu tư vào đấy khá nhiều tiền của, không còn thiếu thứ gì. Thế mà cô ấy vẫn tham quá thể, trông thấy bọc tiền to đã tối mắt vào, nhận lời ngay, không chút suy tính băn khoăn gì hết. Rồi không biết cô ta ỏn thót thế nào mà Thạc cũng nghe theo. Chuyện này mà anh ấy cũng nghe theo thì quả thực em chẳng biết nói sao được nữa. Và đúng như chị cả em dự đoán, chỉ một cú điện thoại thôi là xong việc. Nghe nói khi được thả về, vợ chồng tên trùm ma túy kia tổ chức liên hoan to lắm. Càn rỡ thế cơ mà! Còn bà chị cả em được lợi gì thì không biết, chỉ biết là sau đó, mỗi lần gặp em chị ấy lại mỉm cười đắc thắng. Nghĩ thật buồn. Càng buồn hơn là khi chuyện lan ra, dân tình oán ức, cứ đổ tại em, không sao làm rõ được, khổ vô cùng!
Nhưng đúng là quả báo. Chỉ ít lâu sau, cậu con trai của Thạc và cô ấy, bấy giờ đang học cấp hai, bất ngờ sa vào nghiện hút. Có thể nó đã dùng phải những liều thuốc do chính cái kẻ được mẹ nó cưu mang đó, đưa về. Chẳng biết làm gì hơn, hai người đành bí mật đưa thằng bé đi cai nghiện. Đành rằng đây là căn bệnh thế kỷ, bọn trẻ mắc nghiện ở vùng này nhiều lắm, gia đình nào cũng nớm nớp sợ, nên không thể nói đây là lỗi tại ai, nhưng trong trường hợp này, không hiểu sao em cứ cảm thấy có cái gì đó khác thường, như một sự trừng phạt đối với cô ấy và anh ấy.
Và như người ta nói, khi gặp hạn thì tai họa cứ sầm sập đến, ít lâu sau anh ấy cũng mất chức luôn. Có một sự thay đổi gì đó, như luồng gió xoay chiều. Một lớp trẻ mới lên, tài đức thì chưa biết thế nào nhưng họ có nhiều điểm vượt trội hơn so với lớp người đi trước, nhất là về học vị và tuổi trẻ. Trong nhiệm kỳ năm đó, họ chiếm đa số phiếu bầu. Tuy nhiên khi lên cầm quyền, mặc dù đã nghe dân tình phản ánh nhiều vụ việc, nhưng có lẽ vì nể nang các bậc đàn anh nên họ cũng cho qua mọi chuyện, không bới móc gì. Thạc mất chức trong danh dự. Vậy mà anh ấy vẫn cay cú lắm, càng cay hơn là cô vợ hai không chính thức kia, còn rất trẻ và xinh, đã chạy theo người khác ngay sau khi biết chuyện. Rồi những kẻ được coi là “đệ tử ruột” của anh ấy cũng lần lượt biến dần. Đời bạc thế! Những ngày đó Thạc buồn ra mặt. Anh ấy nằm lỳ ở nhà suốt mấy tuần liền, chẳng ra khỏi cửa, người trông hốc hác võ vàng khiến em không khỏi động lòng thương. Nhưng em càng tỏ ra ân cần thì anh ấy càng bực dọc. Đôi lúc em bắt gặp ánh mắt anh ấy nhìn hai đứa con em một cách hằn học và tức tối, như thể chính chúng là nguyên nhân làm cho anh ấy thua cuộc vậy. Điều này làm em ái ngại hơn tất cả. Bởi vì hai đứa ấy, thằng lớn thì giống anh như đúc, còn con em nó, tuy là hình bóng của em thuở nhỏ nhưng cái cặp mắt xanh thì quả thực là ... không giấu được ai! Và em cảm thấy trong sự bất hạnh của Thạc, mình cũng có lỗi một phần nên đã cố gắng tìm cách làm lành, sớm tối ra vào chăm sóc và lựa lời khuyên giải. Rồi một đêm anh ấy vào phòng em và ở lại cho đến sáng. Việc này rất ít khi xảy ra bởi đã từ lâu, ngoài việc thực hiện nghĩa vụ làm vợ, em chẳng có gì để tâm sự với anh ấy cả. Hình như anh ấy muốn có với em một đứa con. Em đoán thế và cũng thuận theo, mong sao cứu rỗi cho anh ấy. Tiếc rằng điều mong muốn đó, một lần nữa, lại vẫn không thành. Không hiểu sao như vậy.
Còn Ivan ư? Em chả biết tin gì về anh ấy cả. Anh ấy phải về nước sớm hơn dự kiến. Vị Trưởng đoàn chuyên gia lúc đó cũng nghiêm túc hệt như các quan sếp nhà mình, khi thấy quan hệ giữa em với Ivan có vẻ khác thường, ông ta lập tức ra quyết định thay người, đưa Ivan về nước. Từ đó bọn em bặt tin nhau. Không biết bây giờ anh ấy thế nào, sống ra sao hay đã thành một con người khác? Dù sao thì cũng không thể trách anh ấy được, bởi vì anh ấy cũng như anh, không hề biết chuyện gì... Đành hi vọng vào một sự tình cờ nào đấy, có thể lại là một chu kỳ hai mươi năm mới gặp lại chăng?
Chị khẽ cười. Còn anh im lặng. Lát sau chị hỏi:
- Anh về chuyến này được lâu không?
- Anh cũng còn đang tính. Thực ra chuyến này về anh có hai mục đích. Một là thăm lại gia đình quê hương, gặp gỡ bạn bè và mẹ con em. Hai là cũng muốn tìm hiểu tình hình, xem có thể đầu tư dự án nào tại đây không. Những năm ở Pháp, anh đã học được khá nhiều điều trong lĩnh vực kinh doanh, vì vậy khi về nước, anh nhìn đâu cũng ra dự án. Những ngày qua anh đã làm một cuộc hành trình trong suốt ba miền và anh rất mừng vì đi đến đâu cũng thấy nhiều cái mới, nhiều dự án lớn đang được mở ra trên đất nước mình. Nói gì thì nói, trước sau mình vẫn là người Việt, như một mảnh thiên thạch bị văng ra từ một hành tinh, dù bay đến tận đâu vẫn mang trên mình cái sắc thái riêng của nó, không lẫn vào đâu được. Tỷ phú ở đâu không biết, nhưng nếu trở lại đất nước mình mà không mảy may xúc động, tệ hơn lại tỏ ra khinh thị dân mình thì đó chẳng qua là những tên trọc phú mà thôi. Anh nghĩ vậy. Và anh cho rằng đây là một cơ hội tốt cho những kẻ lưu vong biệt xứ như anh có thể gây cơ sở để đi về qua lại . Anh đang có ý đồ xây dựng một dự án ở miền Nam. Riêng ở đây, do có sẵn tài nguyên rừng, giao thông thủy bộ rất thuận tiện, anh định sẽ đầu tư một nhà máy chế biến gỗ, giống như nhà máy của bọn anh ở bên kia, định rằng nếu sau này con nó lớn lên, sẽ giao lại công trình này cho nó.
- Thôi!
- Sao? Em khách sáo với cả anh ư?
- Không phải thế!
- Hay là em sợ con nó không nhận anh là bố?
- Càng không phải. Anh nên biết là ngay sau lần gặp trước, em đã điện báo cho con nó biết rồi. Ít hôm nữa thế nào bố con cũng gặp nhau thôi.
- Vậy sao em lại từ chối ý định của anh?
- Vì em thấy rằng con nó không có xu hướng đó. Nó đang học trường Nhân Văn, xem chừng cu cậu có ý định theo đuổi nghiệp văn chương kia đấy!
- Thế cũng hay. Ngày xưa anh đã từng mơ như vậy.
- Nhanh thật! Mới đó thôi mà đã gần hết đời người...
Lại lặng im. Cả hai đắm đắm nhìn ngôi sao trước mặt, trời sắp rạng đông mà nó vẫn long lanh tỏa sáng. Đôi lúc có cảm giác nó đang sắp cháy lên trên nền trời tím nhạt.
- Người ta bảo sao Mai cũng chính là sao Hôm, đúng không anh?
- Đúng vậy!
- Lạ nhỉ? Cũng là ngôi sao ấy nhưng buổi sớm mọc phía này, buổi chiều lại mọc phía bên kia.
- Nó cũng giống như đời người vậy. Vì thế người ta còn gọi là sao sớm sao chiều. Chỉ khác là sao sớm sao chiều đều sáng cả, còn con người ta thì...
- Có những người đến cuối đời vẫn giữ được sự sáng trong như vậy.
- Tất nhiên! Nhưng làm được thế đâu có dễ. Con người ta luôn mắc sai lầm, đến lúc nhìn ra thì đã muộn.
Lại dừng. Hình như họ lắng nghe tiếng biển. Tiếng sóng lóc bóc vỗ vào cồn đá, nghe thật vui tai.
Trời sắp sáng rồi.
|
|
duchue
member
REF: 355589
06/07/2008
|
>>
xem chủ đề
Cám ơn Datinh. Lâu nay hơi mắc công chuyện nên không qua NCD. Rất nhớ các bạn nhưng nhiều việc quá. Thông cảm nha!
|
|
duchue
member
REF: 352744
06/01/2008
|
>>
xem chủ đề
Cám ơn linhda. Vẫn vào đọc truyện của anh thường xuyên đấy chứ? Cho anh gửi lời thăm chú và các cháu nha!
|
|
duchue
member
REF: 352689
06/01/2008
|
>>
xem chủ đề
Chương 18 : Đồng dao thời hiện đại
Hẹn với Linh ra đảo vào chủ nhật. Còn ba ngày nữa, phải tranh thủ giải mã cuốn Nhật ký để đi cho kịp. Nhật ký của người ta nhưng cuốn sách đã là của mình rồi. "Bạch cốt tinh" đã trở thành cô gái đẹp, phải khẩn trương không khéo hóa ra nửa người nửa ma thì hỏng. Nguyễn mỉm cười khi rời khỏi nhà Linh, trở về căn phòng nhỏ của mình. Vợ anh đang xem ti vi dưới tầng một, chạy theo lên. Hôm nay em mới mua được mấy gói sữa tươi, để trong tủ lạnh, bố nó đêm có đói thì lấy ra mà ăn nhé. Không cần phải cốc chén gì đâu, chỉ việc dùng kéo cắt ra một góc, cho cái ống nhựa vào rồi cứ thế hút thôi. Nhớ chưa? Khéo lại quên mất đấy! Nguyễn gật đầu. Nhớ rồi, nhớ rồi!
Đến đâu rồi nhỉ?
Lại chuyện bác Lê Thông. Không tìm thấy bác ta ở ngoài đời, lại thấy trong Nhật ký, buồn cười thật! Té ra bác Thông cùng bác gái đã rời thành phố ra đảo Không Tên ở.
Bấy giờ Hoàng Thạc đã từ vùng cao về được mấy năm, trở thành một trong những nhân vật quan trọng của thành phố Biển. Anh đã xây một ngôi nhà to bên bờ vịnh và đón vợ con về. Vậy là con cái bác Lê Thông, trai gái dâu rể đều đã thành đạt cả. Bà chị cả tuy chẳng học hành gì mấy, trước đây chỉ làm Y tá trưởng thế mà dần dà cũng giành được cái ghế phó giám đốc hành chính trong bệnh viện. Anh thứ hai là đại tá trong quân đội, ở xa nhà nhưng danh tiếng thì cả tỉnh này ai cũng biết. Anh thứ ba làm giám đốc nhà máy, trước kia ở khu tập thể, sau lại chuyển về ở chung với ông bà. Ngôi nhà cũ đã được xây thành biệt thự, hạ nền xuống sát mặt đường. Nhà xây rất đẹp nhưng bác Thông lại không muốn ở. Nguyên do là thời điểm đó, người ta bắt đầu thực hiện chương trình nâng cấp thị xã lên thành phố, cấp tập mở mang đương xá và xây dựng các khu đô thị. Một thời gian dài đôi bờ vịnh không lúc nào ngớt tiếng xe tiếng máy, tiếng mìn nổ vang trời, tiếng gầm rú của các loại máy ủi máy xúc mày cào lẫn trong tiếng đá lăn đất lở. Ban ngày hay buổi tối đã đành, ngay cả đến canh khuya nhiều lúc vẫn dội lên hàng chuỗi tiếng động ầm ầm như sấm, át đi tiếng sóng biển lúc triều cường liên tiếp xô vào đá núi, xua tan giấc ngủ của mọi người, khiến các cư dân sống quanh vùng đó, nhất là những gia đình ở cạnh đường to như nhà bác Lê Thông, không thể nào chịu nổi. Đấy là chưa kể cái nạn phải hứng chịu những cơn lốc bụi. Bụi mù trời, khiếp khủng. Nhà nào nhà nấy bụi phủ dầy trên nóc, bám đặc vào các cửa đi cửa sổ, len cả vào chăn màn gối đệm. Đang ăn cơm mà có một trận gió to thì thôi rồi, cơm canh cứ là đầy sạn như trộn đất, không sao mà nuốt được.
Sống ở đây gần trọn cuộc đời, bác Thông đã quen với cái nhịp điệu chậm rãi êm đềm khoan nhặt của đất và người miền biển, không dễ gì thích ứng với những thay đổi lớn, vả lại từ khi về nghỉ hưu, tuy sức khỏe chưa có gì đáng ngại nhưng tâm trạng bác nhiều khi không thoải mái. Đồng ý rằng hội nhập là hay, xã hội đang từng bước đi lên thật, nhưng cũng đẻ ra lắm sự nhiễu nhương quá sá, làm “đảo lộn quân thần phụ tử”. Người ngay sợ kẻ gian, thầy giáo sợ học trò, bọn côn đồ bức hại người lương thiện cũng không ai dám cứu. Đám lau nhau thì không sa vào nghiện hút cũng đua đòi ăn chơi đủ kiểu, quần áo đầu tóc nhố nhăng lòe loẹt trông ngứa mắt. Cánh trung trung tuổi, cỡ ngoại tứ tuần lại càng quái đản, đang yên đang lành bỗng dưng nổi máu tài tử dởm, bỏ mặc cửa nhà đua nhau đi hát karaoke rồi ra vũ trường học nhảy, lại còn mua vi tính về chát chít linh tinh rồi kết nhân tình nhân ngãi lung tung, gọi là đi “bồ bịch”, thật chẳng ra cái thể thống gì. Nói ra chúng bảo mình cổ hủ, đã không nghe còn bịt miệng cười, cả thằng Thạc chồng con Linh cũng thế, không thể nào hiểu nổi. Thế là nhân cái cớ người ta san đồi lấp biển làm ô nhiễm môi trường, bác Thông quyết định ra đảo ở, con cháu can ngăn thế nào cũng không nghe. Làng đảo không khí trong lành, ngôi nhà của cụ ngoại vẫn còn nguyên đó. Hai cụ không có con trai, mấy bà con gái, trừ vợ bác Thông đều lấy chồng xa nên không ai ở. Ngôi nhà tuy nhỏ thôi và cũng tuyềnh toàng lắm, nhưng sửa sang tý chút còn ở tốt. Ngoài vườn cây cối sum suê, cam quýt mít dừa quả sai lúc lỉu. Bà con xóm láng thấy hai bác ra ở cùng với họ thì mừng lắm, mấy chú trong ủy ban xã còn muốn mời bác trai tham gia công tác mặt trận, nhưng bác chỉ cười cười xua tay từ chối. Mấy chú liền phong cho bác chức già làng. Từ đó bác Lê Thông được gọi bằng hai từ kính cẩn : Già Thông.
Già Thông đi ở ẩn, tránh xa chốn lao xao, có thể là như thế, hoặc có thể bác ta nghĩ thế, và như thế là hay, khỏi phải ồn ào va chạm cho mệt nguời tổn thọ. Đám con cháu trong thành phố, mỗi tháng đôi lần kéo nhau rồng rắn ra thăm, trưng diện ngất trời làm sáng cả một vùng cây cỏ. Bà con trên đảo đỗ xô đến bên hàng rào chen nhau nhìn ngó, xuýt xoa khen ngợi. Hai cụ thật là phúc đức quá, con cháu đề huề, lại toàn cỡ ông to bà lớn, đúng là sướng thật !
Tưởng thế là yên, không ngờ chưa đầy một năm sau lại có chuyện xảy ra khiến Già Thông không thể làm ngơ, phải bắt tay vào cuộc.
Số là trong khi tiến hành xây dựng thành phố, tỉnh có chủ trương “trải thảm đỏ" mời các nhà đầu tư trong và ngoài nước về đây hợp tác làm giàu. Tín hiệu vừa phát ra đã có hàng trăm chiếc rada bắt sóng. Người ta đổ đến ngày một đông với vô số dự án trình lên chờ phê duyệt. Phê duyệt xong thì thông báo mời thầu, mời thầu xong thì tổ chức đấu thầu, đấu thầu xong thì tổ chức thi công, thi công xong thì tổ chức bộ máy, bộ máy xong thì tổ chức tuyển người, tuyển người xong thì tổ chức kinh doanh... đại loại là như vậy. Tất cả các dự án đầu tư đều diễn ra theo trình tự đó, tạo nên những cuộc hội ngộ đua chen đầy hứng thú xung quanh chuyện ‘người tìm việc, việc tìm người” cực kỳ sôi nổi. Thời gian đầu mọi việc xem chừng trôi chảy, các doanh nghiệp đua nhau phát triển, nhà cao tầng mọc lên như nấm. Dân chúng thì hồ hởi tưng bừng, hoa chân múa tay tỏ ý nhiệt liệt hưởng ứng cái chủ trương sáng suốt này, coi đó như một phép màu có thể thu cả năm châu bốn biển về một mối. Nghe họ kháo nhau đến Thượng đế cũng phải cười. Này, nước mình giàu đến nơi rồi nhé. Bây giờ mình bắt tay với Mỹ rồi, thân Mỹ rồi, khối người ở Mỹ về nói chuyện nhiều cái hay không tưởng được. Chưa biết chừng nay mai họ còn đổ tiền đổ của vào cơ. Tiền thì tiền đô, đồ thì đồ xịn, tha hồ mà ăn chơi xả láng.
Không biết người ta có đổ tiền đổ của vào không nhưng các dự án đầu tư của người Mỹ đến vùng này thì quả là có thật. Tiếc rằng vẫn có nhiều cái mắc và mắc nhất là khâu giải tỏa mặt bằng xây dựng.
Đảo Không Tên cũng không nằm ngoài tình trạng đó. Đây là dự án của một ông chủ người Việt hiện đang ở Mỹ liên kết với một công ty du lịch mới thành lập tại vùng này. Chẳng biết tên công ty đó là gì, chỉ nghe dân đảo gọi là công ty Tây Pha Ta, nghe cũng hơi giống tên Mỹ thật. Và không hiểu sao dự án này lại rất trùng hợp với ý tưởng của ông Điều làm nhà báo Nguyễn đang đọc dở trang Nhật ký phải dừng lại vì một ý nghĩ chợt nảy ra trong óc :”Hay chính là cái chỗ ban sáng mình đến nhỉ???...”. Nó giống nhau như thể dập khuôn đến từng chi tiết. Nghĩa là đầu tiên cũng đắp đường ra đảo, sau đó dựng lên giữa những cánh rừng thông xanh mát một danh lam thắng cảnh thời hiện đại với những công trình lớn kiểu dáng tân kỳ có đầy đủ tiện nghi sang trọng mang đậm phong cách châu Âu xen giữa những khách sạn xây theo kiểu Á Đông ít nhiều mang dáng dấp cung đình và thấp thoáng đó đây là nhưng điểm vui chơi giải trí nhiều hình vẻ. Chỉ khác ở chỗ sau khi dự án được phê duyệt, người ta chuẩn bị bắt tay vào việc thực thi thì bị mắc.
Thoạt đầu dân làng đảo rất mừng. Chỉ riêng việc nối đảo với đất liền đã là may phúc lắm, lại còn biến thành khu du lịch thì quá tuyệt. Thế nhưng khi nghe phổ biến về cơ chế bồi thường thì chẳng ai chịu cả. Họ áp giá kiểu gì mà thấp thế, mỗi mét vuông có vài chục bạc, trong khi giá đất đang tăng. Trong thành phố ấy à, rẻ cũng phải non chục triệu một mét vuông, cao gấp mấy chục lần, chưa nói sau này đây còn trở thành khu du lịch nữa. Đúng là quá thiệt!
Già Thông không tính chuyện thiệt hơn như họ nhưng cũng không muốn dời đi một chút nào. Ngôi nhà này tuy đơn sơ nhưng cảnh quan rất thích và còn lưu giữ bao kỷ niệm một thời. Cái thời hoạt động bí mật, nhiều đồng chí của già đã từng sống và làm việc tại đây. Cái phiến đá to ở đầu nhà, nơi các đồng chí thường ngồi ăn khoai vẫn còn nguyên như cũ. Mỗi lần nhìn nó, Già Thông lại không khỏi bồi hồi xúc động. Giờ mà họ bỏ đi có khác gì bắn đại bác vào lịch sử? Không thể được, dứt khoát không thể được! Mặc người ta đến tận nhà giải thích, rồi mời ra họp tại trụ sở ủy ban, họp lên họp xuống nhiều lần, Già vẫn một mực lắc đầu, kiên quyết không đi đâu hết. Bà con thấy vậy càng vững chí, cứ ỳ ra, mặc kệ. Cực chẳng đã, ban lãnh đạo xã phải làm “một cái văn” gửi lên thành phố, đề nghĩ điều chỉnh giá bồi thường cho phù hợp. Thành phố cũng làm “một cái văn” chuyển xuống, đại ý là không điều chỉnh được, đây là luật, căn cứ vào điều a điểm b theo nghị định c p ra ngày và nghị quyết t u ra ngày... nói chung rất dài dòng văn tự nhưng tóm lại là yêu cầu bà con phải chấp hành nghiêm túc, đảng viên đi trước làng nước theo sau, nếu không sẽ buộc phải dùng biện pháp mạnh, tức là cưỡng chế.
Và người ta làm thế thật. Đúng ngày quy định, một đoàn cán bộ liên ngành với danh nghĩa “Ban giải tỏa mặt bằng thành phố” kèm theo một số công nhân chuyên nghề tháo dỡ, xuống tàu tiến ra làng đảo. Đã biết trước chuyện này, bà con làng đảo hẹn nhau hôm đó tất cả đều nghỉ việc, ở nhà xem động tĩnh ra sao. Mấy chú bé được phân công trèo lên một cây to, hễ thấy ca nô chở họ ra là phải phi báo ngay lập tức. Quả nhiên như vậy, chiếc ca nô vừa xuất hiện sau cồn đá giữa hồ, mọi người đã biết, lập tức đổ ra đứng chật đường, người nào người nấy tay cầm cuốc xẻng, sào chống hoặc bơi chèo với tư thế sẵn sàng chiến đấu. Có cảm giác chỉ cần một hồi trống nữa thôi là họ sẽ ào ạt xông lên đánh giáp lá cà. Đoàn giải tỏa đến nơi thấy thế vội chùn cả lại, tuy vậy sau khi nghe ông trưởng đoàn nói nhỏ câu gì đó, họ lại tiếp tục tiến lên, vui vẻ hỏi bà con làm gì ở đây mà đông vui thế. Đáp lại một già làng râu tóc bạc phơ từ đám đông khoan thai bước tới, dõng dạc hỏi các anh các chị đến đây có việc gì. Thưa rằng chúng tôi đến để thực hiện nhiệm vụ thành phố giao cho ạ. Nhiệm vụ gì? Dạ thưa chúng tôi có nhiệm vụ giải tỏa mặt bằng xây dựng ạ. Giải tỏa ở đâu? Dạ ở đây. Tưởng bà con đã nhận được thông báo rồi chứ ạ. Dân đảo chúng tôi không ai biết chữ, có nhận được thông báo cũng không đọc được, xin hỏi các vị định giải tỏa thế nào? Dạ thưa, theo chỉ thị của lãnh đạo thành phố, nếu đến ngày hôm nay bà con vẫn chưa chịu di dời thì buộc lòng chúng tôi phải tiến hành... cưỡng chế ạ. Cưỡng chế, tức là kéo quân đến phá nhà dân có phải không? Dạ... Xin phép hỏi anh, ai ký lệnh này? Dạ, đó là đồng chí Hoàng Thạc ạ. Hoàng Thạc là ai? Dạ, đó là... Ông trưởng đoàn giải tỏa chưa nói hết câu chợt thấy một người râu hầm hàm én, mắt trợn tròn xoe, tay cầm “bát xà mâu”, tức là cái lao xiên cá, từ sau lưng cụ già nhảy vọt ra, quát to như sấm, làm cho ông ta suýt nữa thì té xỉu. Này mấy người kia, đừng có nói lôi thôi nữa, có biết cụ già đây là ai không, chính là cụ Lê Thông, bố vợ ông Hoàng Thạc đó! Ta nói cho mà biết, trong hai mươi tư giờ tới, nếu các người cả gan đụng đến bất cứ một ngôi nhà nào ở đảo này thì đừng có trách, bọn ta sẽ không để yên đâu. Biết điều thì rút khẩn trương trước khi quá muộn. Đoàn cán bộ liên ngành nghe thế thì hoảng quá, không dám ho he một tiếng nào, kéo nhau xuống ca nô chuồn thẳng.
Ngay chiều hôm đó, Hoàng Thạc đích thân đáp xuồng máy ra làng đảo. Đầu tiên anh đến ủy ban, quán triệt tinh thần cho cấp dưới, sau đó mới vào thăm ông bà ngoại. Đến nơi thấy Già Thông đang đi dạo trên bãi biển, anh liền chạy theo ra, lựa lời thuyết phục. Ông thấy đấy, vùng đất này từ trước đến nay có gì đâu. Một cái thị xã nhỏ con, nhà cửa tuyềnh toàng, lúp sa lúp súp nối nhau từ rừng xuống biển. Đường xá thì vừa chật hẹp vừa bụi bặm, xe buyt từ Hà Nội về đây mất gần trọn ngày trời, khách du lịch mỗi lần về phát khiếp. Vì vậy tiềm năng thì nhiều mà nguồn thu thì ít. Nếu không mở cửa, gọi vốn đầu tư thì làm sao có thể khai thác tài nguyên được? Người ta có tiền, mình có đất, coi như cùng nhau góp vốn làm giàu, con nghĩ không có vấn đề gì nghiêm trọng cả. Còn trong khi vận dụng thì phải uyển chuyển, dĩ bất biến ứng vạn biến, cứng nhắc như thời bao cấp thì một bước cũng không đi nổi, đúng không ông? Con cho rằng với cách làm này, chỉ trong mươi năm tới, chắc chắn tỉnh chúng ta sẽ trở thành một tỉnh giàu mạnh, và thị xã này sẽ trở thành một thành phố lớn... Biết rồi, khổ lắm, nói mãi! Anh hãy đi vào chuyện chính đi. Vâng, nếu ông cho phép, con xin được nói ngay đây ạ. Con muốn ông giúp một tay trong việc xây dựng đảo thành khu du lịch, nhờ ông giải thích cho bà con hiểu rõ vấn đề. Tôi làm sao giải thích cho họ được, trong khi quyền lợi sát sườn của người ta thì các anh không tính đến? Không phải thế đâu ông ạ, thực ra chúng con đã tính cả rồi, nếu để nguyên hiện trạng thì đất ở đây quả thực không đáng giá. Để biến nó thành một khu đô thị, người ta phải đắp đường ra đảo, phải mất công san gạt, phải đầu tư biết bao tiền của chứ đâu phải như bà con nghĩ ạ. Vậy sao anh không tự đi mà giải thích cho người ta, sao lại phải nhờ tôi mới được? Vì con nghĩ một lời của ông gấp mười lần con nói. Ông mà nói thì ai cũng phải tin. Anh chắc thế à? Con chắc là như vậy, bởi ông là con người mẫu mực, là nhà cách mạng lão thành, lại rất có tài hùng biện và... Thôi được rồi, đừng có bốc thơm tôi nữa, rút cục là anh muốn tôi bảo họ thế nào đây, nhanh chóng di dời đi chỗ khác chứ gì? Dạ đúng như thế ạ, mong ông hết lòng giúp đỡ con. Gìa Thông lắc đầu cười. Hay đấy! Nhưng đáng tiếc là tôi không thể nhận lời anh được. Vì sao ạ? Vì chính tôi cũng không muốn rời khỏi chỗ này, còn nói ai được nữa? Ông cứ đùa con mãi. Ông sao có thể như họ được, ông cần gì chúng con phải có trách nhiệm, việc gì phải lo mấy cái đồng bạc bồi thường ấy? Đây tôi không nói chuyện tiền nong, anh nên nhớ ngôi nhà này vốn là cơ sở cách mạng hồi chống Pháp! Vâng, con biết, nếu cần chúng con sẽ cho xây dựng tại đây một Đài kỷ niệm, để mọi người luôn ghi nhớ. Vậy có nghĩa rằng các anh vẫn có quyền sử dụng đất theo ý muốn, kể cả khi đã giao hẳn cho doanh nghiệp? Chỉ giao trong một khoảng thời gian nhất định thôi ạ. Tất nhiên là khi thống nhất hợp đồng rồi thì sử dụng thế nào là quyền ở họ, nhưng dù sao với bọn con việc này cũng không có gì khó cả. Hàng ngàn héc ta thì cắt ra vài lô đất đáng gì. Vậy tôi hỏi thật nhé, phần đất ở đảo này, anh có mấy lô, riêng anh đấy?
Thạc liếc nhanh về phía Già Thông. Già Thông cũng nhìn lại anh với nụ cười ranh mãnh. Suy nghĩ vài giây, anh quyết định chơi bài ngửa. Anh tiến lại gần bố vợ, khẽ thì thầm câu gì đó. Tưởng ông cụ sẽ mừng, không ngờ nghe xong, Già Thông nghiêm mặt lại. Tôi đoán không sai, rõ ràng từ trước tới nay các anh toàn vụ lợi. Mỗi một dự án đưa các anh phê duyệt mà cứ thế này thì... Ông thông cảm cho, con làm thế cũng chỉ vì các cháu thôi mà. Ông ạ, con tính rồi đây phải cho chúng đi du học nước ngoài, mà phải đi các nước tiên tiến như Anh, Mỹ để trang bị cho hoàn hảo, cho nên... Cho nên anh phải làm những việc bất chính như vậy để có tiền, phải vậy không? Khổ, thời đại này mà ông vẫn còn theo cái nếp suy nghĩ ấy! Con chỉ tranh thủ trong phạm vi cho phép thôi mà. Ai cho phép? Ông cứ bắt bẻ thế thì con chịu, nói ông đừng giận, ông đúng là... Đúng là cổ hủ phải không? Thì cứ cho là tôi cổ hủ đi, nhưng tôi nói thật, nếu anh không dừng ngay cái trò đục nước béo cò như vậy , tôi sẽ không bỏ qua đâu. Là người giữ trọng trách trong guồng máy xã hội mà còn thế, huống hồ kẻ khác. Anh ăn được thì người ta cũng ăn chứ kém à? Anh muốn đưa con anh đi nước ngoài đào tạo cho hoàn hảo, dễ thường người ta không muốn thế? Rồi tất cả sẽ trở thành gian dối hết. Rồi các cháu tôi nó cũng học anh, làm theo cách đó, dẫu có thành đạt cũng chẳng ra gì, thậm chí còn hỏng hẳn. Ông cứ quan trọng hóa vấn đề, con cho rằng... Không có cho rằng gì cả! Tôi nói cho anh biết: Sự đổi mới, mở cửa hội nhập là xu thế thời đại, các anh làm thế là đúng hướng, hợp lòng dân, nhưng nếu lợi dụng nó để vơ vét cho cá nhân mình thì tác dụng sẽ hoàn toàn ngược lại. Anh không thấy sao, người ta đang nói rất nhiều về chuyện rửa tiền. Vì sao phải rửa tiền? Vì đó là những đồng tiền bẩn. Đồng tiền bẩn mới phải tìm cách rửa, nhưng rửa được tiền liệu tay có sạch không? Có rửa đến muôn đời không sạch! Cứ bảo vì sao dân người ta mất lòng tin, vì tay mình không sạch chứ còn sao nữa. Tay mà không sạch thì ai người ta thèm bắt tay mình, thế thì hội nhập làm sao được? Hãy thôi đi, đừng làm thế!
Biết không lay chuyển được “cụ khốt” này, Thạc chuyển sang đề tài khác, sau đó xin phép về, lấy cớ tối nay còn bận họp. Không sao, cứ việc về mà họp, nhưng chớ có nói một đằng làm một nẻo. Điều đó tồi tệ lắm. Thời chúng tôi tuy có những sai lầm, nhưng chỉ sai về phương pháp chứ không phải là bản chất, còn các anh bây giờ... Mà thôi, nói nhiều chẳng giải quyết gì, chỉ nhắc anh một điều : Đức tin, đó là điều quan trọng nhất đối với mỗi cộng đồng người. Thời đại nào, quốc gia nào, khuynh hướng chính trị nào mà không chú ý gây dựng nó thì dẫu cơ đồ có đẹp mấy cũng không thể bền vững được. Tôi già rồi, sắp xuống lỗ rồi, có mấy lời quê kệch giãi bày với anh như vậy, nghe hay không thì tùy.
Không biết Thạc nghĩ thế nào về những lời khuyên bảo của Già Thông mà sau đó không thấy anh quay lại làng đảo nữa, mặc dù anh đã hẹn sẽ làm việc với ủy ban một buổi. Ban giải tỏa mặt bằng cũng mất hút luôn. Nghe đâu người ta đã thu xếp cho mấy ông chủ dự án Tây Pha Ta một khu đất mới. Có thể như thế lắm, bởi vì ít ngày sau thấy họ tự nhiên rút quân về, không thi công nữa. Bao nhiêu máy móc thiết bị mới hôm nào được đưa ra đảo, giờ lại hò nhau khuân hết xuống tầu, chở đi nơi khác. Riêng cái tấm biển đề tên công ty thì họ quên không rút, vẫn còn cắm ở bến thuyền, nơi họ định đổ bê tông móng để đắp đường ra đảo, về sau thành tấm bia cho bọn trẻ hàng ngày tập phóng lao săn cá. Chúng phóng lao thế nào mà làm tróc hết những dòng chữ viết bằng sơn trắng trên tấm biển, dần dần chỉ còn mấy chữ tiếng Anh:“Welcome to” ở góc trên cùng. Một lần bọn trẻ hỏi nhau : Welcome to gì nhỉ? Một đứa trả lời : Welcome to Không Tên! Cả bọn reo lên : Hay đấy, hay đấy! Thế là chúng hoan hỉ nắm tay nhau nhảy vòng quanh tấm biển, vừa nhảy vừa hát một bài ca do chúng tự đặt ra. Bài ca ấy như vầy:
Welcome to Không Tên
Đi xuống lại đi lên
chẳng thấy ai đến cả
chỉ thấy con kền kền
Welcome to Không Tên
Biết ai nhớ ai quên
Hết mưa rồi lại nắng
Chỉ có một con thuyền
Welcome to Không Tên...
|
|
duchue
member
REF: 352685
06/01/2008
|
>>
xem chủ đề
Chương 17 : ĐÊM HÈ PHỐ BIỂN
Chuyện bếp núc văn chương quả có nhiều phiền toái. Đã nghĩ rằng do điều kiện không cho phép, việc viết lách chỉ xem như một thú chơi, lúc nào rảnh rỗi thì làm, còn phải tập trung sức lực vào những việc thiết thực hơn, chả nên ham hố quá, không khéo rồi cả nhà phải khổ vì mình. Thế mà không hiểu sao từ lúc phát hiện ra cuốn Nhật ký để quên trên giá sách, mới nảy ra ý định giải mã một vài trang xem nó thế nào, không ngờ đâm ra say sưa mê mẩn. Say sưa mê mẩn đến nỗi quên cả ăn cả ngủ, quên cả tập bản thảo vừa mới viết xong chẳng buồn đọc lại, đến nỗi mỗi khi có việc gì đó phải đi ra ngoài cũng quên luôn không nhớ mình định đi ra ngoài để làm gì, chỉ nhớ khi ở ngoài về lại ngay lập tức bị cuốn vào cái trò chơi kỳ quái đó. Mình đâm ra lẩn thẩn rồi chăng, hay mình đang dần dần hoá thân vào nó, cảm thấy nó y như chuyện của mình, mình đã biến mình thành nhân vật của mình, và mình đang làm một việc hết sức nghiêm túc là biến cái trò chơi khá là dớ dẩn này thành cái không phải trò chơi?
Đúng là việc mình làm không phải trò chơi. Không phải trò chơi nhưng vẫn là trò chơi bởi mình không cảm thấy mình đang làm việc. Không cảm thấy mình đang làm việc mà vẫn say sưa làm việc thì khác gì đang đánh một ván bài. Đánh một ván bài mà không có đối thủ nào trước mặt tức là mình không ham hố thắng thua. Không ham hố thắng thua tức là mình đang học cách đánh "song lục" của Kim Thánh Thán. Học cách đánh "song lục" của Kim Thánh Thán thì tốt nhất hãy ngồi mà tưởng tượng ra như vậy. Tưởng tượng ra như vậy tức là mình đang ngồi đánh "song lục" cùng Thánh Thán đây. Ngồi đánh "song Lục" cùng Thánh Thán thì trước hết phải làm gì nhỉ? Trước hết phải làm cái việc mà tiên sinh vẫn thường làm. Việc tiên sinh vẫn thường làm như mình được biết là ngửa mặt lên trời mà hét tướng lên. Hét tướng lên thì hét thế nào? Hét tướng lên rằng: Chẳng cũng sướng sao?
Lại có người gọi điện.
- A lô, ai đấy ạ?
- Em, Linh đây!
- Linh?
- Anh sao thế? Say à?
- Không... Uống gì đâu mà say. Có việc gì không Linh?
- Lại còn hỏi có việc gì không nữa. Say thật rồi! Anh không nhớ đã nhờ em việc gì sao?
Câu nói đã kéo Nguyễn trở về thực tại. Té ra đây là cô Linh ở phòng trị sự cơ quan báo, đồng nghiệp của anh, người mà trưa nay ở đảo về, anh đã nhờ tra cứu một vài dữ liệu cần tìm. Đúng là mình say thật!
- ờ nhỉ? Anh xin lỗi, xin lỗi! Thế Linh đã làm chưa, kết quả thế nào?
- Xin báo cho nhà văn một tin buồn : Không kết quả! Em đã rà soát rất kĩ rồi nhưng không có. Khắp vùng này, từ hoà bình lập lại đến nay chả có ông lãnh đạo nào có tên như thế cả.
- Thế gia đình?
- Đến bản thân ông ấy còn không có thì làm gì có gia đình? Nhân vật chính mà tìm không được thì thôi chứ. Còn cái chị trùng tên với em thì nhiều vô kể, vạc đi không hết. Biết tiếng Nga cũng có, nhưng chẳng thấy ai trước làm phiên dịch cho chuyên gia cả. Anh lấy thông tin từ đâu vậy?
- Bí mật!
- Bí mật thì thôi, anh cứ việc đi mà tìm lấy.
- ấy đừng! Anh đùa đấy. Có chuyện này hơi lạ... Này, tối nay em có rỗi không, anh muốn đến chơi nhà, nhân thể bàn với em chút việc?
- Em thì buổi tối không mấy khi rỗi đâu, nhưng nếu cần cũng thu xếp được. Chả mấy khi rồng đến nhà tôm.
- Lần đầu tiên được gọi là rồng đấy, mũi anh đang phồng rộp đây này. Vậy tối nay anh đến nhé?
- Vâng!
Cô ấy cũng tên Linh, lạ nhỉ? Trong đầu Nguyễn xuất hiện một mối liên hệ, một sự so sánh giữa hai nhân vật trùng tên. Một người ở ngoài đời, một người trong Nhật ký. Họ giống nhau và khác nhau ở những điểm gì?
Lại thêm một trò chơi nữa.
Cô Linh ngoài đời ba mươi sáu tuổi, chia tay chồng đã dăm bẩy năm nay, khi đứa con của họ mới lên sáu tuổi và cô vẫn ở vậy nuôi con từ đó đến giờ. Chẳng biết có phải do ảnh hưởng cách sống phương Tây hay không mà từ khi mở cửa hội nhập đến giờ, các cặp vợ chồng cứ đua nhau ly dị. Chẳng có lý do gì đáng kể cũng chia tay. Mấy ông bà ở tổ hoà giải khu phố nói sùi bọt mép chẳng ăn thua, phát chán không làm nữa. Ôi dào, bọn trẻ bây giờ thì có trời mà hiểu được. Thích ly dị là đưa nhau ra ly dị, thế thôi. Hiện đại chẳng thấy đâu, thấy toàn hại điện! Họ nói với nhau như vậy. Còn những cặp vợ chồng quyết định chia tay nhau thì cười hi hí. Nên chăng thì thiếp với chàng, chẳng nên người nước người làng với nhau, có gì bức xúc đâu mà các bác cứ lên lớp bọn em nhiều thế?
Nguyễn chẳng để tâm lắm vào những chuyện này. Nhưng vì Linh là người cùng cơ quan nên thi thoảng anh vẫn phải nghe người ta đàm tiếu về cô. Họ bảo rằng cô liên tục cặp bồ, hết ông này ông khác, nên vợ chồng họ chia tay là phải. Từ dạo bỏ nhau, cô ả còn xài sang hơn, chơi toàn cỡ VIP. Họ chả nặng đô mà. Ông nào gặp cũng kết cô ta lắm, tưởng đâu có thể "đem cả một thành trì vừa chiếm được để dâng nàng", thế mà khi sư tử Hà Đông khẽ vểnh râu một cái đã sợ vãi linh hồn, chạy mất dép luôn. Đúng là "bỏ của chạy lấy người", thế là cô nàng càng thắng đậm. Thật thế à? Thật chứ ai nói dối. Nếu không cô ta làm gì ra mà phất nhanh như vậy? Một mình một nhà to, ở ngay giữa phố, tiện nghi toàn đồ xịn, không thiếu thứ gì. Sử dụng vốn "tự có" như thế mới cao thủ chứ!
Nghe thì biết vậy, thực tình Nguyễn không tin chuyện đó. Anh thường nhìn nhận mọi điều theo một góc riêng. Dù người ta nói thế nào về Linh, anh vẫn luôn có thiện cảm với người thiếu phụ này. Linh làm ở bộ phận vi tính trong toà soạn. Làm rất tốt, giao việc cho cô hoàn toàn có thể yên tâm, cần truy cập gì chỉ nói một câu đã có ngay kết quả. Và xem ra cô sống cũng vô tư, thoải mái, lúc nào cũng xinh tươi, vui vẻ và hay chuyện. Cánh đàn ông, sau lưng a dua bình phẩm cho sướng miệng thế thôi chứ gặp thì anh nào cũng muốn vờn. Chưa kể nhóm đầu bốn đầu năm như Nguyễn, ngay cả đám phóng viên trẻ, mới vào nghề cũng rất thích "bu", miệng gọi bằng bu nhưng mắt thì rõ là những "Thiên bồng nguyên soái".
Đầu óc tự nhiên mất tập trung. Nguyễn gấp lại trang Nhật ký, xuống đường đi dạo.
Buổi tối mùa hè phố xá luôn nhộn nhịp. Lòng đường có phần thưa thoáng hơn, ít xe qua lại hơn nhưng trên các vỉa hè, nhất là ở cái vỉa hè bên cạnh công viên chạy dài theo mép biển, rất đông vui tấp nập. Người ta rủ nhau đi bộ thể thao, từng cặp vợ chồng sóng đôi đi rất nhiệt tình, trong đó phần lớn là những người cao tuổi. Nguyễn đi một mình cũng thấy vui lây. Những gương mặt người quen thuộc, hàng ngày vẫn gặp, bây giờ lại gặp, họ đang đi bộ, thế thôi, chẳng có gì đặc biệt, vậy mà vẫn có cái gì đó làm Nguyễn phải ngạc nhiên. Cuộc sống đang hiện diện quanh ta, rất bình thường giản dị, nhưng thật tuyệt vời, đáng yêu biết mấy!
Nhà Linh ở khu trên, không xa lắm, đi thong thả cũng chỉ hơn mười phút là cùng. Khi Nguyễn đến thấy tầng trên điện sáng, còn tầng dưới tối om. Những nhà mặt phố vì tránh bụi, thường không tiếp khách ở tầng trệt. Biết vậy nhưng Nguyễn vẫn ngần ngại mãi mới quyết định bấm chuông. Linh xuống cầu thang, ra mở cửa. Nhìn cách ăn mặc sơ sài, mái tóc thường ngày xoã ngang vai, lúc này búi ngược lên đầu, Nguyễn có cảm giác cô đang dở việc. Quả nhiên, khi bước lên gian gác dùng làm phòng khách, thấy ở góc trong có bộ vi tính, màn hình đang mở, ngó vào thấy dày đặc toàn cột số.
- Tính toán kinh doanh gì mà gớm thế này? - Nguyễn hỏi.
- Kinh doanh gì đâu anh. - Linh vừa xếp gọn lại đống tài liệu trên bàn vừa đáp - Em làm thuê cho người ta đấy. Một số doanh nghiệp tư nhân thiếu người làm nhưng chưa tuyển được, họ đến hợp đồng với em theo thời vụ ấy mà.
- Thu nhập khá không?
- Cũng tàm tạm. Chịu khó làm mỗi tháng cũng thêm được một khoản bằng lương.
"Thảo nào cô ấy bảo không mấy khi rỗi việc, thế mà mình lại hiểu sang chuyện khác"- Nguyễn thoáng nghĩ và quay sang Linh, khẽ mỉm cười:
- Bận túi bụi thế này thì cặp "bồ" vào lúc nào đây?
- Làm gì có bồ nào?
- Xinh nhất hội mà không có bồ thì lạ nhỉ?
- Còn đang chờ anh đấy!
- Anh thì thuộc loại "cổ lai hy" rồi , còn tính làm gì nữa.
- "Cổ lai hy" hiện đang là mốt đấy! - Linh cười ngặt nghẽo - Anh ngồi đi.
Linh dùng phất trần phủi qua làn bụi bám trên bộ ghế không đệm, pha nước mời khách, sau đó mới đi thay áo, chải đầu. Nguyễn đưa mắt nhìn quanh. Khác hẳn với sự hình dung của anh, căn phòng bài trí đơn giản quá, ngoài bộ vi tính ra chẳng có cái gì đáng gọi là đồ xịn. Một cái tủ cao hình bán nguyệt kê ở góc phòng.
Phòng trong rồ lên tiếng ti vi, tiếng Linh nói chuyện với con gái:
- Học xong chưa con, sao chưa gì đã xem phim thế?
- Dạ con học xong rồi mẹ ạ. Hôm nay cô cho ít bài mà.
-Vậy thì xem đi. Cho tiếng nhỏ đi một tý, mẹ đang có khách.
Trò chuyện với Linh thấy khác hẳn những lời đồn đại. Hàng ngày cô đến làm việc tại cơ quan báo, đánh văn bản và truy cập tình hình thời sự, tối về lại vùi đầu vào việc làm thuê, tính toán các tài khoản, hợp đồng chi thu này khác cho doanh nghiệp, có tiền thì trả nợ bạn bè đã cho vay để mua nhà hoặc sắm sửa thêm vài thứ. Vậy thôi. Niềm vui của cô là công việc, hạnh phúc của cô là đứa con gái nhỏ. Nó thích nhất là những ngày nghỉ được mẹ dùng xe máy lai đi chơi khắp. Mùa hè ra bãi biển đông người, mùa đông vào chùa lễ phật hoặc đi vãn cảnh, ngoài ra thỉnh thoảng về quê, thăm ông bà nội ngoại, chú bác cô dì... Bao năm tháng qua đi vẫn thế, và cô vẫn luôn vui vẻ hồn nhiên, hầu như không có gì phải bận tâm, lo lắng. Cái gì đến sẽ đến, không thì thôi, với em thế là ổn lắm rồi, chẳng mong gì hơn nữa. Linh nói vậy.
Nguyễn chăm chú nhìn Linh. Đằng sau cái dáng vẻ mảnh mai, thanh tú của người thiếu phụ toát lên một cái gì rất tự tin, khoẻ khoắn đầy bản lĩnh. Nhớ lại những điều người ta đàm tiếu về Linh, Nguyễn lắc đầu cười. Ai nói nhỉ? "Câu chuyện của kẻ nhàn rỗi thường là tai hoạ cho những người làm việc". Quả đúng là như thế. Chỉ đáng buồn là trong số những kẻ hay đưa chuyện đó có cả những đồng nghiệp của anh, những nhà báo, nhà văn có "mác" hẳn hoi mới chết người ta chứ. Mà người đời cũng lạ, bình thường họ vẫn sử dụng câu cửa miệng :"Nhà văn nói láo, nhà báo nói khoác", nhưng mỗi khi các nhà báo nhà văn nói điều gì, họ vẫn cứ tin sái cổ. Thật là nghịch lý. Nguyên do là cách xử lý thông tin, do nghệ thuật sàng lọc, đưa đẩy ngôn từ khiến mọi chuyện qua lăng kính "các nhà" trở nên hợp tình hợp lý, thành thử luôn có sức thuyết phục người nghe, người đọc. Và nếu xét trong lĩnh vực nghề nghiệp, họ đâu phải hạng tầm thường, nhiều lúc cũng tỏ ra anh hùng hảo hán ra trò đấy chứ. Riêng chuyện này, Nguyễn biết rõ hơn ai hết, bằng ngòi bút của mình, họ đã nhiều phen đối đầu với các thế lực cường quyền, bênh vực kẻ yếu bị đối xử bất công một cách không khoan nhượng. Đã không ít vụ được phanh phui gây chấn động cả một vùng, khiến người ta kính nể. Thế thì tại sao đối với một người đàn bà lương thiện như Linh, họ lại nỡ tung tin thất thiệt? Nghe chuyện Linh, Nguyễn mới khám phá ra điều bí mật này. Thì ra chính những ông tướng ấy, những anh hùng hảo hán kia, chứ không phải Vip nào, đã không ai bảo ai, lần lượt đến đây "xin chết", nhưng không "chết" được, mới tìm cách báo thù bằng cách đó. Có lẽ do lòng kiêu hãnh bị tổn thương khiến miệng lưỡi họ trở nên độc địa. Yêu quá hoá thù là thế. Cho hay, trong con người quân tử vẫn còn nhiều cái nọc tiểu nhân lắm lắm...
Như để bào chữa cho đồng nghiệp của mình, Nguyễn ôn tồn nói:
- Anh nghĩ nếu không muốn lập gia đình thì có thể kết bạn cũng chẳng sao, việc gì phải từ chối làm người ta phải mếch lòng?
- Khổ nỗi người ta đâu có hiểu em. Họ cứ nghĩ em cần chỗ dựa...
- Chả lẽ thế là sai?
- Không sai. Nhưng nếu em có cần thì đó là tình cảm, là chỗ dựa tinh thần chứ đâu phải như họ nghĩ. Nói thực với anh, tiếp xúc với đàn ông bây giờ, em chán lắm, họ toàn thực dụng thôi.
- Cả anh cũng thế?
- Không, anh khác chứ!
- Thế tức là anh không phải đàn ông?
Nguyễn cười vang, còn Linh lúng túng không biết đáp thế nào, vội lảng sang chuyện khác:
- Việc của anh thế nào, chả lẽ bí mật đến nỗi không cho em biết được sao?
Nguyễn kể qua cho Linh nghe về những gì mình đã thu lượm được trong cuốn Nhật ký. Linh chăm chú nghe rồi khẽ nhíu mày:
- Lạ nhỉ? Khung cảnh thì đúng là chuyện xảy ra ở vùng này... Hay là họ từ nơi khác đến rồi đi, rồi lại quay trở lại?
- Cũng không biết nữa.
- Nhưng có nhất thiết phải đem trả họ cuốn sổ đó không?
- Điều đó không quan trọng. Cái chính là anh muốn biết hiện nay họ thế nào.
- Anh thử thông báo trên ti vi xem?
- Làm thế không hay. Đây là chuyện riêng của họ mà.
- Vậy anh có nhớ nơi mình nhặt được nó không?
- Nhớ. Đó là một hang đá ở trong lòng vịnh. Đi ca nô mất chừng nửa tiếng.
- Hay anh thử quay lại đó xem sao, biết đâu người ta cũng đang trở lại tìm, hoặc là nhắn lại những người bảo vệ hang động, cần thì báo cho họ biết.
- Có lẽ phải làm thế thật.
- Em có một người bạn làm kinh doanh dịch vụ du lịch, nếu không thích phải đi ghép với các đoàn tham quan thì có thể thuê xuồng máy đi riêng. Cần thì em có thể làm "cán bộ đường lối" giúp anh được đấy.
- Em biết lái xuồng à?
- Vâng! Trước khi chuyển sang cơ quan báo, em đã từng làm ở đó mà.
- Vậy thì tốt quá! Nhờ em đi giúp cho một chuyến. Coi như mình đi picnic ấy mà, có được không?
Linh khẽ gật đầu, mỉm cười nhìn Nguyễn. Trong thoáng lát, anh nhận thấy gương mặt cô ửng đỏ. Có lẽ vì anh nói đi "picnic" nên cô thấy ngượng.
|
|
duchue
member
REF: 351929
05/31/2008
|
>>
xem chủ đề
Không sao đâu Bảo Hà ơi. Anh vừa đi công chuyện, cũng lâu chưa ngó qua NCD mà. Vừa rồi đã xem bức tranh lớn toàn các vĩ nhân trong nhà Bảo Hà. Rất tuyệt! Không biết Hà sưu tầm ở đâu được mà hay thế!
|
|
duchue
member
REF: 348793
05/24/2008
|
>>
xem chủ đề
Chương 16 : LYDA
Đảo Không Tên. Ngày...
Sẽ là một thiếu hụt lớn nếu như nói về Paris mà không nhắc đến Lyda. Nhưng quả thực kể chuyện này thật khó. Để diễn tả một cách trung thực về cô tiểu thư quý tộc này, mình chỉ có thể viết ra chứ không chuyển tải bằng lời được. Trong con người nàng có cái gì đó hơi bí ẩn, như có hai con người. Hai con người khác hẳn nhau, thậm chí đối lập nhau, đến mức mình không sao hiểu nổi. Đã không ít lần mình tự đặt ra nhiều câu hỏi về nàng nhưng không tìm được lời giải đáp. Mãi sau này vẫn không tìm đuợc.
Kể từ hôm gặp Lyda tại nơi làm việc của Francois, phải đến hơn một năm sau tôi mới gặp lại nàng. Đấy là lần đầu tiên tôi đến thăm gia đình ông chú nhận tại nhà riêng. Một toà lâu đài vào loại đẹp nhất trong thành phố, nằm giữa một khu vườn rộng, có bể bơi và nhiều chỗ dạo chơi rất thú. Biết tôi mắc việc làm ăn, Francois không trách cứ gì, vui vẻ dẫn đi vòng một lượt quanh lâu đài, chỉ cho xem mọi thứ rồi hỏi tôi đã nói chuyện bằng tiếng Pháp được chưa, liệu hôm nay ông có phải đóng vai phiên dịch không. Tôi đáp rằng xin chú yên tâm, để chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ này, cháu đã dành cả năm trời luyện tập không mệt mỏi. Francois gật đầu cười. Maintenant fe vais te Vérifier). Sau đó ông đưa tôi vào nhà, giới thiệu với gia đình rồi bảo tôi hãy tự làm quen. Không hiểu sao lúc ở khu ổ chuột, trao đổi bằng tiếng Pháp với Năm Sẹo thì rất đạt, thậm chí còn nói năng hết sức lưu loát nữa, vậy mà đến đây tự nhiên ngôn ngữ cứ biến đâu hết cả. Nghe thì hiểu nhưng nói thì cứ vấp liên tằng, nhiều lúc bí từ, tạt cả sang tiếng Việt, làm Fraccois phải dịch lại cả câu để mọi người hiểu rõ ý tôi định nói. May mà hôm ấy vợ chồng anh lớn bận việc gì đó không đến được, gia đình chỉ có ba người, cô chú và Lyda, tiếp chuyện tôi, nếu không thì ngượng chết. Những lúc như vậy, mẹ Lyda nhìn tôi bằng ánh mắt thông cảm và khích lệ, còn Lyda thì rũ ra cười. Đôi khi nàng còn cố tình trêu chọc, vặn vẹo ngôn từ đủ kiểu làm tôi lúng túng. Mấy lần mẹ nàng đưa mắt cho con gái, nhắc nhẹ bằng hai tiếng: "Ly... da!" nhưng nàng không chịu, cứ trêu chọc mãi. Xem ra nàng rất thích cái vẻ ngô nghê, ngờ nghệch của tôi và rất hay bắt nạt. Cố nhiên tôi biết, phải là người thân thiết lắm nàng mới biểu hiện ra như vậy.
Nghe mình nói rất muốn được tham quan thành phố, Lyda nhận lời ngay. Em sẽ đưa anh đi, chỗ nào thích anh cứ bảo, nhất định em sẽ làm cho anh toại nguyện. Ngay sau đó, trong lúc mẹ nàng vào nhà trong, sai người làm cơm đãi khách, Lyda xin phép bố, đánh xe đưa mình đi dạo một vòng. Nhưng khác với ý định ban đầu, nàng không dừng tại một điểm nào mà đánh xe lên thẳng đồi Montmatre, nơi có nhà thờ Sacré Coeur được xây cất từ cuối thế kỷ mười chín. Nhà thờ này cũng đẹp nhưng không phải là nơi mình ao ước được tham quan, nên cảm thấy hơi thất vọng. Chừng như đoán được tâm trạng đó của mình, Lyda mỉm cười cho biết đây là nơi khai sinh của nền mỹ thuật hiện đại châu âu. Trong những năm đầu thế kỷ hai mươi, rất nhiều hoạ sỹ từ nhiều nước đã đến đây sống và sáng tác. Phần lớn những bức tranh được xem là tuyệt tác trong bảo tàng Louvre đều được ra đời từ chính quả đồi này. Vả lại, đứng ở đây ta có thể thấy được toàn cảnh Paris. em muốn trước hết anh hãy chiêm ngưỡng toàn cảnh paris đã. Muốn thế cần phải chọn cho mình một điểm nhìn tổng thể. Ici le meilleur position pour observer. Lyda nói với mình như vậy
Tôi đứng bên Lyda, dưới tán một cây dẻ lớn, cách xa những ngôi nhà án ngữ dưới chân nhà thờ Sacré Coeur, nhìn khắp Paris theo chỉ dẫn của nàng, như dõi theo cây bút vẽ thần kỳ của nhà hoạ sỹ. Quả như nàng nói, từ trên cao nhìn xuống, người ta sẽ không bị sa đà, choáng ngợp bởi một cái gì và đầu óc sẽ trở nên thư thái. Đứng đây phóng tầm mắt ra bốn phía, mới thấy Paris đẹp thế nào. Một vẻ đẹp vừa cường tráng vừa diễm lệ trong vành đai Boulevard. Dòng sông Seine lấp lánh dưới ánh nắng chói chang của buổi đầu hè, uốn khúc quanh co từ phía nam vùng Ile de France, chảy qua thành phố theo hướng đông bắc rồi đổ ra phía tây, hoà vào dòng chảy nối sang eo biển Măng Sơ cách đó vài trăm cây số. Kia là đảo Cité, nơi được coi là cái nôi của Paris từ thời cổ, giờ đây là những dãy phố hiện đại lượn theo một vòng tròn từ tây sang đông, nối với Ile Saint - Louis xa hoa giàu có bằng một cây cầu nhỏ. Xung quanh đó còn có những cây cầu lớn bắc qua đôi bờ tả ngạn và hữu ngạn sông Seine, nơi có những tượng đài nổi tiếng nằm rải rác, như một đội quân hùng tráng, oai nghiêm canh giữ cho những cung điện, lâu đài, nhà thờ lộng lẫy bên trong. Khắp thành Paris chỗ nào cũng thấy hiện lên những công trình kiến trúc kỳ vĩ, những nhà hát, công viên xinh đẹp, những Trung tâm thương mại, tổ hợp Forum Les Halles và hệ thống tầu điện ngầm. Hầu như khu phố nào cũng có một quảng trường bên cạnh các nhà thờ lớn, nổi bật hơn cả là quảng trường Charles de Gaulle, điểm hội tụ của những đại lộ thênh thang chạy theo hình chéo góc, tạo thành một ngôi sao khổng lồ vây quanh Khải hoàn môn sững sững, uy nghi. Và dường như để làm dịu đi sự chói sáng của nó, người ta đặt vào đó những khu vườn tuyệt đẹp, như những tấm thảm xanh mềm mại xen giữa nhưng công trình thành phố.
Rực rỡ huy hoàng trong nắng ban mai, Paris hiện lên như một bức tranh tuyệt mỹ. Những dòng người, xe qua lại trên đường trông tựa những mảng màu pha trộn tuỳ hứng, lốm đốm trên bức tranh khiến nó càng trở nên sống động. Nhìn về phía nào người ta cũng phải kính cẩn nghiêng mình trước những gì mà bàn tay con người đã kỳ công tạo dựng, khiến tôi luôn tự hỏi không biết chúng ra đời như thế nào, từ những năm nào và ai là người đã sáng tạo nên điều kỳ diệu ấy?
Anh phải nhìn cho thật kỹ đi, rồi anh sẽ biết mình đang đứng ở đâu và nhìn nó bằng con mắt thế nào. Và đến một lúc nào đó, anh sẽ hiểu rằng đến với Paris không chỉ đến với một thành phố đẹp mà là đang bay đến một ngôi sao. Le plus brilliant e'toile dans le ciel. Anh sẽ tìm ra ở đó rất nhiều điều thú vị, thậm chí còn có thể phát hiện ra một thứ ngôn ngữ ở ngoài ngôn ngữ. Đấy là lúc anh có được một Paris trong tâm khảm, một Paris của riêng mình. Anh sẽ hình dung về một Paris theo cách của anh, chứ không phải qua những bài học thuộc lòng của mấy cô hướng dẫn viên du lịch.
Khi đã có cái nhìn như vậy, anh sẽ không cần phải nhờ ai chỉ dẫn mà có thể đến đâu tuỳ thích. Thậm chí có lúc tình cờ rẽ vào chốn linh thiêng, tĩnh lặng như Panthéon, anh vẫn tìm được người tâm sự. Họ là những ngôi sao ở một thế giới khác, nhưng vẫn không ngừng di chuyển theo quỹ đạo này. Và mỗi ngôi sao như vậy lại là cả một thế giới riêng, trong đó chứa đựng không ít điều bí ẩn. Những điều mà bao nhiêu năm qua, và mãi mãi sau này, người ta còn tiếp tục kiếm tìm nhưng vẫn không thể nào thấy hết. Và đó chính là điều kỳ diệu nhất của Paris.
Không biết Lyda nói với tôi hay chính tôi đã nói với mình như vậy? Không biết nữa. Chỉ biết rằng khi cảm xúc trào dâng tràn ngập trong lòng, không hiểu sao tôi chợt nảy ra một ý nghĩ lạ lùng, rằng Lyda chính là hiện thân của Paris. Paris chính là nàng. Một ngôi sao đẹp nhất. Tôi nói với Lyda như vậy. Nàng mỉm cười, nghẹo đầu một cái, trông rất điệu, mái tóc vàng óng khẽ rung rinh, sóng sánh, khiến gương mặt nàng sáng bừng lên, duyên dáng lạ thường.
Tuy tỏ ra rất tự hào với những ngôi sao sáng của Paris, nhưng trên thực tế, Lyda lại có cái nhìn khác hẳn. Trên đường trở lại nhà, ngang qua một khu phố nhỏ, nàng dừng xe bên một rặng cây, kéo tôi vào quán giải khát trên hè đường, xung quanh người đông nườm nượp. Tôi vừa thưởng thức món kem socola thơm phức và mát lịm vừa quan sát xung quanh. Có cảm tưởng cho đến thời điểm ấy, vẫn thấy thấp thoáng đó đây những gã Tenasdie hoặc chú bé Gavroche. Họ hoá thân vào những tay chủ hiệu có cái đầu tròn ủng lấp ló sau cửa kính hoặc những chú bé đánh giầy, bán báo không ngừng len lỏi giữa đám đông. Chứng tỏ sức sống của nhân vật trong tác phẩm của Hugo thật là mãnh liệt
Tôi nói ra ý nghĩ này với Lyda. Nàng lắc đầu cười. Vraiment un home innormal! Bây giờ người ta không viết thế đâu ông ạ! Vậy họ viết thế nào? Viết thế nào ư? Cứ học tiếng Pháp cho thật giỏi đi, rồi anh sẽ biết! Nàng nói và mỉm cười với vẻ đầy bí mật.
Việc Lyda bảo tôi là "hâm" khi tỏ ra thán phục một nhà văn vĩ đại như Victor Hugo không làm tôi tự ái mà chỉ gợi lên sự tò mò. Có thể đối với người Pháp ngày nay, những gì Hugo viết ra đã trở nên lạc hậu? Có thể như thế lắm. Nhưng thôi, mình đâu phải nhà nghiên cứu gì gì, cũng chẳng có thì giờ tìm hiểu sâu về lĩnh vực quá xa vời như vậy. Chẳng qua đi với Lyda mới bất chợt hứng lên, nói chuyện này chuyện nọ cho vui, lúc trở về nhà máy, bù đầu vì công việc sẽ lại quên hết cả. Quên cả Hugo, cả "Ngôi sao sáng nhất trong vũ trụ", cả những cảm nghĩ có vẻ thăng hoa của mình khi cùng Lyda đứng trên đồi Montmartre. Và ngay cả Lyda cũng vậy, chắc gì mình đã nhớ nàng nếu như cuộc thăm thú Paris chỉ dừng ở đó?
Nhưng chuyện đã không dừng ở đó. Buổi trưa hôm ấy, sau khi dự bữa cơm thân mật với gia đình ông chú nhận, tôi xin phép ra về vì ngày mai còn phải đi làm sớm. Francois gật đầu đồng ý, bảo Lyda đánh xe đưa tôi ra thị trấn ngoại ô. Trên đường đi nàng thắc mắc rằng ở các công sở khác, mỗi tuần người ta đều được nghỉ hai ngày, sao các anh vẫn phải đi làm nhỉ? Tôi đáp rằng theo qui định thì như thế, nhưng nhà máy này đang có đông bạn hàng, sản phẩm làm ra không kịp. Bọn tôi phải huy động công nhân làm thêm vào ngày nghỉ cuối tuần, vì vậy tôi và Sanh phải thay nhau trực. Ngày mai là phiên trực của tôi. Lyda khẽ cau mày, quay sang nhìn tôi chăm chú. Anh không tìm được lý do gì để nghỉ sao? Tôi định lắc đầu nhưng chợt thấy ánh mắt nàng có vẻ hơi khác lạ, nên lại gật ngay. Kể ra muốn nghỉ thì cũng được. Vấn đề là nghỉ để làm gì? Lyda mỉm cười, nhấm nhỉ. Nếu anh thích, em sẽ đưa anh đến một chỗ rất hay. Chưa biết là chỗ nào nhưng tôi đã "rất thích" luôn. Tưởng việc gì chứ đi với em thì anh nghỉ đến mấy ngày cũng được. Thật chứ? Thật mà! Lyda lập tức quay xe, rẽ sang đường khác. Khoảng hơn một tiếng sau dừng lại giữa một khu vườn nằm bên một hồ nước rộng, xung quanh cây cối um tùm, gần đó có một ngôi nhà bằng gỗ ghép dựng trên bãi cỏ. Bốn bề vắng vẻ, gần như biệt lập với thế giới bên ngoài. Đang mải quan sát thì Lyda đã mở cửa xe ra trước, sau đó đi vòng qua đầu xe, mở cửa cho tôi. Tôi sực tỉnh, vội vàng xin lỗi. Ôi, anh thật vô tình quá! Thật là bất lịch sự. Không sao! Hôm nay anh là sếp của em mà.
Tôi theo Lyda vào nhà, nhìn quanh thấy mọi thứ được bố trí rất ngăn nắp, có đầy đủ tiện nghi vật dụng như một căn hộ đàng hoàng. Chắc đây là nhà nghỉ cuối tuần của gia đình Lyda. Tôi đoán vậy. Lyda lấy trong tủ lạnh ra mấy lon nước mát, uống xong rủ tôi đi dạo quanh hồ. Quả thực phong cảnh ở đây rất tuyệt, rất nên thơ. Gió từ phía cửa rừng lồng lộng thổi về, làm xao động ánh chiều vàng trên mặt nước. Đó đây chim chóc hàng đàn, ríu ran bay lượn. Lại có cả thiên nga nữa. Một đàn thiên nga trắng phau lượn lờ trên một góc hồ, trông xa tựa như những cánh diều phấp phới. Anh thấy thích không? Thích chứ, quá tuyệt vời! Thế này có phải hơn không, tội gì chen chúc ở phố phường nóng bức. Em biết anh còn muốn tham quan một số đền đài trong thành phố, nhưng mùa này mà chui vào đấy thì rất mệt. Người đông như kiến, có vào cũng chỉ như cưỡi ngựa xem hoa, chẳng ích lợi gì. Nhưng chả lẽ đến Paris mà lại không dừng ở một điểm nào? Đã bay đến ngôi sao thì phải hạ cánh trên đó chứ? Hạ cánh thích hơn hay là bay cùng nó thích hơn? Lyda nghênh mặt lên hỏi lại. Tôi sực nhớ đã gọi nàng là ngôi sao đó, liền khoác tay nàng. Vậy chúng mình cùng bay nhé? Anh định bay đến đâu nào? Đến đâu cũng được, kể cả đến cùng trời cuối đất. Lyda im lặng, rất lâu, không nói câu gì. Tôi đâm hoảng. Lyda, em sao thế? Em không sao! Anh muốn nói với em một điều... Anh nói đi! Anh cảm thấy em đúng như thế đó, em chính là hiện thân của Paris. Chỉ tiếc rằng... Tiếc rằng sao? Tiếc rằng em... lại là em gái! Anh nghĩ thế à? Đấy là anh sợ em nghĩ thế. Anh...
Từ giờ phút đó, tôi và Lyda trở nên gần gũi nhau hơn. Lúc quay về ngôi nhà gỗ, thấy trời đã muộn, nàng lục tủ lấy ra bộ Pyjama, giục tôi đi tắm, còn nàng tự tay vào bếp làm mấy món ăn chiều. Tôi cảm động nhìn Lyda, ngoan ngoãn tuân theo chỉ dẫn của nàng. Sau nửa giờ ngâm mình trong bồn tắm, ra đứng trước gương trong bộ Pyjama xúng xính và sang trọng, tôi chẳng thấy tôi đâu nữa, trước mặt mình là một nhà quý tộc trăm phần trăm. Y phục biến đổi con người ghê thật. Thảo nào người ta hết sức tôn vinh các nhà tạo mẫu. Tôi quay ra thấy Lyda đeo chiếc tạp dề đứng bên bếp nấu, nhìn nghiêng có nét gì nhang nhác giống Linh, cảm thấy trong lòng chộn rộn, chẳng biết mình đang vui hay buồn nữa. Hay là cũng như Sanh và Quế, tôi và Linh đã vượt biển sang đây và đang sống cùng nhau trong căn nhà hạnh phúc này? Hay đúng như Linh nói, đây là sự đền bù của Thượng đế cho một kẻ luôn thua thiệt? Anh làm gì vậy? Giúp em một tay nào. Tiếng Lyda cắt ngang dòng suy nghĩ. Tôi lại gần, giúp nàng lấy vài thứ trong tủ lạnh. Mùi xào nấu toả ra thơm nức mũi. Nàng thật tuyệt vời! Tôi nhủ thầm như vậy và trong lúc Lyda vào buồng tắm, tôi định ngồi nối lại dòng suy tưởng của mình nhưng không được. Một ý nghĩ khác chen vào: Đêm nay thế nào nhỉ? Chẳng lẽ mọi chuyện diễn ra nhanh thế? Có gì lạ đâu, mình đang ở Pháp kia mà! Người Tây họ thích nhau là thích nhau luôn, đâu có vòng vo tam quốc như mình... Trời sập tối lúc nào không biết. Lyda từ phòng tắm bước ra, hoá thành một nữ hoàng. Bộ váy áo trắng tinh viền đăng ten óng ánh, làm nổi bật mái tóc vàng ôm lấy gương mặt xinh tươi, thanh thoát đầy quyến rũ. Không, không phải nữ hoàng mà là nàng công chúa trong rừng. Nhìn nàng trong ánh điện màu lung linh toả sáng, tôi có cảm giác mình đang sống trong mơ, và căn nhà cũng phảng phất màu cổ tích. Nàng rót rượu mời. Ly rượu trong bàn tay trắng trẻo và mềm mại như biến thành một đoá hoa, khiến tôi ngây ngất, chưa uống đã say mê mẩn. Con người ta có "số " thật chăng? Sao đôi lúc mình gặp may đến thế, tự nhiên lại có được nàng?
Vậy là mình đã có được nàng. Đêm ấy mình đã có được nàng. Khi trút bỏ mọi thứ trên người, mình không khỏi bàng hoàng trước tấm thân tuyệt đẹp của Lyda. Nhưng ngược hẳn với sự cảm nhận của mình vừa nãy, nàng công chúa trong chuyện cổ vụt biến thành con người hiện đại. Không chút e dè, ngượng ngập, nàng lập tức cuốn mình vào cuộc hoan lạc đầy bạo liệt. Có cảm giác nàng muốn khám phá mình hơn là sự hiến dâng, còn mình như bị thôi miên, mọi cử chỉ đều nhất nhất tuân theo sự dẫn dụ của nàng. Khi hôn nhau, nàng ngậm lưỡi mình rất lâu trong miệng. Mái tóc vàng phủ kín mặt mình, sực nức mùi nước hoa thơm ngát. Rồi nàng lật mình ra, trườn người xuống thấp hơn một chút, chậm rãi hôn lên khắp ngực mình. Sau đó lại trườn xuống thấp hơn, hôn khắp cả, hệt như trong phim sex mà mình đã từng xem qua những cuốn băng do Năm Sẹo đem về khu ổ chuột. Em làm gì lạ thế? Mình thốt kêu lên. Đáp lại, Lyda khúc khích cười, tiếp tục dùng mấy ngón tay ve vuốt cái vật đang cương cứng của mình, để cặp môi xinh xắn của nàng thoả thuê thụ hưởng, làm mình cũng mụ đi trong khoái cảm tột cùng. Rồi bất ngờ nàng xoay ngược người lên và mình sửng sốt nhận ra lông mu của nàng cũng vàng óng như tóc của nàng. Trong cơn mê loạn, nàng nghiêng người xiết chặt lưng mình, định quặp chân lên đầu mình, như đánh vật. Mình kinh hãi quá, phải dùng cả hai tay làm vật cản, giữ chặt cặp đùi thon thắn và trắng nuột của nàng, tạo ra một khoảng cách vừa đủ để ngắm nhìn khiến nàng phải ngạc nhiên dừng lại. Anh sao thế? Thôi đi em! Anh không thích thế đâu! Mình nói và chủ động xoay người nàng lại, ép nằm thẳng ra rồi ấp lên nàng, luồn nhanh vào người nàng một cách êm ái và ráo riết. Một lát sau, khi đã hoàn toàn thoả mãn, Lyda nằm gối đầu lên tay mình, lại cười khúc khích. Anh khoẻ thật! Còn anh thì thấy em lạ lắm. Sao kia? Không sao! Chỉ lạ thôi. Nàng nghẹo đầu sang, như muốn mình giải thích về điều đó. Nhưng mình chỉ lặng im, không nói thêm gì.
Sau lần đó, cuối tuần nào Lyda cũng đánh xe đến đón tôi, rủ đi chơi khắp. Sự xuất hiện của nàng khiến cả nhà máy ngạc nhiên, nhìn tôi bằng ánh mắt đầy kính nể. Mấy chú em thì vô cùng khoái chí, suốt ngày trêu chọc. Anh giai giỏi quá! Thành hoàng tử đến nơi rồi. Bọn em có phận nhờ đây. Tôi lắc đầu cười, nói thác rằng đó là ông chú nhận muốn truyền thụ cho một vài kinh nghiệm làm ăn, nhưng thấy mình bận việc, nên bố trí vào ngày nghỉ, bảo cô con gái đưa đi đưa về cho tiện thôi mà, có gì đâu. Thì bọn em cũng có bảo gì đâu, sư phụ cứ việc đi mà học. Có chiêu nào độc về mách cho bọn em với nhá!
Đúng là tôi đã học được một chiêu độc thật. Một chiêu độc về tình ái, do Lyda truyền thụ, cố nhiên không phải lần nào cũng ở ngôi nhà gỗ bên hồ. Có hôm cha nàng đến đó ngồi câu, Lyda liền kéo tôi đi chỗ khác, thuê phòng nghỉ. Có lần chúng tôi nghỉ đêm ngay tại Paris, nhưng không ở lâu đài của bố mẹ nàng mà vào một khách sạn lớn nằm bên cạnh quảng trường Concorde, lên một căn phòng xinh xắn ở mãi trên tầng tám. Ban đêm Paris quả là một thiên đường. Nhưng cũng như lần trước, Lyda không cho tôi "hạ cánh" mà chỉ đứng trên ban công nhìn xuống. Những đám đông nhộn nhịp đi trên hè phố, bên một khu vườn rất đẹp dọc theo đường Champs élysées, dưới ánh sáng lung linh của muôn vàn tia sáng đủ màu hắt ra từ những toà nhà xung quanh đó. Suốt đêm tiếng rì rầm không ngớt, đem lại cho tôi một cảm giác lạ lùng, khiến tôi hầu như không ngủ chút nào. Rồi tôi cũng đâm quen với các trò nghịch ngợm của Lyda. Mà Lyda thì nghịch như quỷ sứ. Nghịch trên giường chưa đủ, nàng còn kéo tôi ra đứng trước tấm gương rất lớn gắn trên tường, ôm ấp nhau ngay tại đó. Thế là hai thành bốn. Bốn cái thân thể trần như nhộng quấn vào nhau, với những động tác y hệt nhau như một cuộc chơi tập thể. Anh muốn ăn gì không? Lyda hỏi tôi sau khi xong hiệp một. Tôi gật đầu, tưởng nàng dẫn tôi xuống phố, nhưng không, Lyda nói qua điện thoại. Trong chốc lát, một cô hầu bàn đã đưa đồ ăn đến. Toàn những món ăn sang, nóng sốt, kèm theo một chai rượu nhỏ xíu, nhưng ngon tuyệt. Như mọi lần, Lyda lại chủ động nâng cốc mời, và tôi, tất nhiên rồi, lại say mê mẩn, say cả người lẫn rượu.
Sáng hôm sau, như đã hẹn, Lyda đánh xe đưa tôi đi thăm một số công trình nổi tiếng của Paris. Gọi là xem cho biết chứ thực ra cũng chẳng nhằm mục đích gì. Lyda thì đã quá quen cảnh đó, nên chẳng hề thích thú chuyện này, do nể tôi nàng mới chịu vào thôi. Đầu tiên nàng dẫn tôi vào Louvre. Vừa đến cửa đã thấy người đông đặc, Lyda lắc đầu sợ hãi, còn tôi lại rất muốn hoà đồng với họ. Đó là những đoàn tham quan đến từ khắp năm châu, đủ các màu da, áo quần sặc sỡ, trong đó không ít người trông có vẻ học giả, râu tóc rùm roà, kính trắng gọng vàng giương lên lấp loáng. Nhưng có lẽ vì đi theo đoàn, nên cũng vội, họ chỉ lướt qua mỗi nơi một tí rồi đi. Nhìn cảnh đó, Lyda càng tỏ ra sốt ruột. Lúc mọi người xúm xít quanh nàng Mona Lisa nổi tiếng, tôi cũng định chen vào, nhưng bị nàng lôi tuột ra chỗ khác. Tác phẩm này người ta phiên bản khắp nơi rồi, còn xem làm gì nữa! Tôi bật cười, theo Lyda đi tiếp. Quả như nàng nói, nếu chỗ nào cũng muốn xem hết thì rất mệt. Chỉ riêng Louvre đã ngót một nghìn mét vuông, phòng nào cũng la liệt toàn tranh tượng, đến cả trên trần nhà cũng có tranh, xem làm sao xuể. Vả lại mình đâu có hiểu mấy về hội hoạ, chỉ cảm thấy nó như một cuộc vũ hội tưng bừng về màu sắc và đường nét, như một mê cung huyền diệu và bí hiểm, lạc vào không khéo không tìm được đường ra. Tôi nói với Lyda như vậy. Dường như nàng chỉ mong có thế, lập tức dẫn tôi theo một lối thoát phụ ra ngoài, chuyển luôn sang chỗ khác. Đến nhà thờ Đức Bà, nàng không muốn vào sâu nữa, tôi cũng nghe theo. Hai đứa chỉ quanh quẩn trong Toà pháp đình, ngắm nhìn hàng cột đá khổng lồ đỡ mái vòm cao vút, sau đó quay ra. Lyda thở phào như nhẹ nhõm, khoác tay tôi bước xuống những bậc tam cấp, đi rung răng qua khoảng sân rộng lớn của nhà thờ, hệt như hai đứa trẻ. Khác hẳn vừa rồi, khi phải đóng vai bà chị chăn dắt cậu em trai, đi đến đâu cũng sợ cậu ta lạc mất, lúc này trông Lyda thật đáng yêu, hồn nhiên trong trẻo như một cô em gái, một nữ sinh mới ra trường. Điểm này Lyda rất giống Linh, có một cái gì đó luôn biến ảo, cả trong giao tiếp lẫn ngoại hình, tạo nên sức hút tự nhiên, không chút khoa trương cường điệu. Tôi vừa đi vừa ngắm nhìn nàng, trong lòng tràn ngập niềm hưng phấn và hãnh diện, nhất là khi bắt gặp khá nhiều ánh mắt có phần ghen tị của những chàng trai khác. Lyda không để ý điều này vì đang mải nói điều gì đó. Nàng nói quá nhanh, tôi nghe câu được câu chăng, nhưng cứ gật đầu hoài. Lyda tinh lắm, đoán ra ngay, liền vặn lại. Thế nào, rất tuyệt phải không? Tất nhiên rồi, rất tuyệt! Cái gì rất tuyệt? Tôi chỉ tay vào nhà thờ Đức Bà. Lyda giơ một ngón tay lên, vẻ hăm doạ. Em đâu có nói về chuyện đó? Em đang nói về bức tượng kia mà? Tôi vội ngước nhìn bức tượng trên đỉnh tháp. à phải rồi, bức tượng! Tượng gì? Tượng... Thần! Thần gì? Tôi lúng túng không biết trả lời sao. Lyda cười ngặt nghẽo. Đấy là tượng thần Jupiter! Nói từ nãy đến giờ mà không hiểu. Thế mà cũng đòi làm rể Paris kia đấy!
"Chàng rể Paris" là biệt danh mà Lyda tặng cho tôi, ngay sau cái đêm đầu tiên tôi thuộc về nàng. Thật tuyệt vời nếu điều đó trở thành hiện thực. Về phía tôi sẽ lợi cả đôi đường, nói như tục ngữ Việt Nam thì đó là "chuột sa chĩnh gạo". Đáng tiếc là giữa chúng tôi lại có một rào cản lớn.
Anh hãy cầm về đọc lại đi. C'est un charmant livre pour tout le monde. Lyda nói và ngẩng đầu lên một cách kiêu kỳ, khiến tôi đã bực càng thêm bực. Tôi một mực lắc đầu từ chối, viện cớ không có thời gian. Và nếu đây là cuốn sách tiêu biểu nhất hiện nay thì tham khảo thế là đủ lắm rồi, không phải tìm hiểu nữa. Nghe tôi nói , Lyda khẽ mỉm cười. Anh chỉ quen đọc Hugo thôi. Il est comme un vitrine moisi, giờ có ai buồn đọc? Người ta đã vượt rất xa rồi!
Cuộc tranh cãi không đến nỗi căng thẳng lắm, nhưng bắt đầu có tín hiệu chẳng lành. Khi trở về căn nhà gỗ bên hồ, sau một hồi tái diễn cơn lốc ái tình mãnh liệt, câu chuyện dần dần dịch chuyển theo hướng xấu. Lyda cầm tay tôi đặt lên ngực mình, vuốt ve tâm sự, dỗ dành tôi đừng nghĩ ngợi gì về chuyện xảy ra ban nãy, khuyên tôi đừng nên xem cái gì là quan trọng, chỉ "những chuyến bay" như thế này là tuyệt nhất. Hôm qua là gì, ngày mai thế nào, không cần biết. Mọi sự trên đời chỉ là "cái lúc này", ngoài ra tất cả đều vô nghĩa, chẳng có gì đáng quan tâm. Chẳng hiểu Lyda có nói thật ý nghĩ của nàng không, như rõ ràng trong khi bảo tôi quên đi chuyện cãi vã về cuốn sách kia, lại đang ra sức biện minh cho nó. Tôi không tranh cãi với nàng. Tuy chưa có điều kiện tìm hiểu nhiều, nhưng trong thâm tâm, tôi tin rằng văn chương hiện đại Pháp không chỉ đơn giản thế, có chăng chỉ là một trường phái nào thôi, như trường phái heppi chẳng hạn. Tôi thấy cần phải thức tỉnh Lyda. cần nói chuyện với nàng một cách nghiêm túc. Không tranh luận với nàng về cuốn sách nàng yêu thích, tôi nói về chuyên riêng tư, chuyện giữa tôi và nàng, Đáng tiếc trong chuyện này, Lyda không bao giờ thực sự nghiêm túc cả. Tuy vẫn gọi tôi là chàng rể Paris, nhưng khi tôi thử nêu ra vấn đề này thì chưa nói xong, nàng đã phá lên cười. Anh muốn cưới em? Hay thật đấy! Nghĩa là em thấy anh không xứng với mình? Không hề! Ngược lại, em còn rất thích anh. Nhưng đối với em, chuyện đó kỳ cục lắm. Nghĩa là em không muốn lập gia đình? Anh nói không sai. Em chẳng thích bị giàng buộc vào chuyện đó chút nào. Và anh biết không, nếu em thuận theo anh, chắc rằng chỉ sau khi cưới một ngày, anh sẽ chán em ngay lập tức. Tại sao? Tại vì anh không thích cuốn sách này, còn em thì lại thích! Đơn giản thế thôi sao? Vâng, đơn giản thế thôi mà!
Simplement comme ca ! Cuộc đời có nhiều cái tưởng vô cùng đơn giản, vậy mà hậu quả của nó thật khôn lường! Nếu nói rằng người ta có thể chia tay nhau vì một cuốn sách thì quả là phi lý, nhưng trong trường hợp của mình với Lyda, nó đúng là như vậy. Sau cuộc đối thoại này, mình nhận thấy rất rõ rằng quan niệm sống của hai người khác hẳn nhau, sớm muộn bọn mình sẽ phải tách ra, mỗi người mỗi hướng. Vả lại giữa bọn mình còn có bố mẹ nàng, họ sẽ nghĩ sao về chuyện đó? Vậy thì tốt nhất là nên chủ động mà dừng lại. Dừng lại sớm chừng nào hay chừng ấy. Không phải phía Lyda, mà ở phía mình, chính mình đã quyết định chấm dứt mối tình bất chợt này, mình không thể "bay" mãi cùng nàng như thế được. Mình quay về nhà máy, lấy công việc làm vui. Còn Lyda, sau vài lần xuống tìm mình không gặp, đã có ngay một người bạn khác. Điều đó dễ hiểu thôi. Nàng tuyệt vời đến thế kia mà!
|
|
duchue
member
REF: 348649
05/24/2008
|
>>
xem chủ đề
Bảo Hà ơi,anh không biết làm tranh lên trang chuyên của anh đơn sơ lắm, chẳng có gì ngoài mấy bài thơ vui vui. Lúc nào rỗi em hướng dẫn anh cách post tranh ảnh vào trang nha!Chúc em luôn vui khỏe và trang trí nhà ngày càng đẹp hơn!
|
|
duchue
member
REF: 348648
05/24/2008
|
>>
xem chủ đề
Con vàng quay chín rồi đây
Tôi đi mời rượu làm say cả làng
Chúc mừng em chúc mừng chàng
Chúc mừng tôi... suýt bị vàng nó xơi!
Cám ơn changcodon đã ghé thăm nha!
Cám ơn Bảo Hà.Dịp nayf hè về chắc hết mưa tuyết rồi phải hông?
|
|
duchue
member
REF: 348647
05/24/2008
|
>>
xem chủ đề
Con vàng quay chín rồi đây
Tôi đi mời rượu làm say cả làng
Chúc mừng em chúc mừng chàng
Chúc mừng tôi... suýt bị vàng nó xơi!
Cám ơn nguoicodon đã ghé thăm nha!
Cám ơn Bảo Hà.Dịp nayf hè về chắc hết mưa tuyết rồi phải hông?
|
|
duchue
member
REF: 348381
05/23/2008
|
>>
xem chủ đề
Chương 15 : Chơi và học
Vậy là Năm Sẹo vừa là trợ lý vừa là thầy dạy của tôi. Quả thực khi làm việc với nhau, vừa trực tiếp luyện tập môn tiếng Pháp, tôi vừa học được ở ông ta khá nhiều điều, nhất là cách ứng đối rất nhanh khi tiếp xúc với những người dân Pháp sống xung quanh đó, khi họ đến mua hàng lẻ hoặc những thứ đầu thừa đuôi thẹo thải ra trong nhà máy.
Duy có một chuyện tôi không mấy đồng tình với Năm Sẹo, đó là thỉnh thoảng, vào những buổi tối, ông ta thường rủ chúng tôi đến Les rues pour les pietions.(*) Đó là một dãy phố dài, rợp bóng cây xanh mát, nằm dọc sông Seine về phía hạ lưu. Nhìn bề ngoài thì đúng là như vậy. Người đi bộ khá đông, không hề có chiếc xe nào, kể cả xe máy hay xe đạp. Thoạt đầu tôi nghĩ đây là nơi người ta thường đến dạo chơi, hít thở bầu không khí trong lành sau một ngày nhọc nhằn bươn trải. Nhưng té ra hoàn toàn không phải vậy. Một tối thứ bảy, khi vừa lĩnh lương xong, Năm Sẹo rủ tôi đi dạo, loanh quanh một lúc rồi đến đó. Hai anh em lững thững đi dọc phố, dưới những tán cây xoè rộng che khuất ánh đèn cao áp từ xa hắt tới, khiến đoạn đường trở nên dịu mát hơn. Đến một lối rẽ, thình lình có bốn năm cô gái nhào ra, quấn lấy chúng tôi, lơi lả mời chào. Trò gì thế này? Tôi cau mày nhìn Năm Sẹo, ông ta nháy mắt cười, ra hiệu bảo tôi thích cô nào thì chọn. Tôi bực mình gạt họ ra, đi thẳng về phía trước. Thấy thế, mấy cô gái kia cười ré lên, chạy sang một gốc cây đối diện, vây lấy hai người đàn ông khác cũng vừa đi tới. Mặc họ, tôi cứ tiếp tục đi. Nhưng càng đi càng thấy suốt đoạn đường chỗ nào cũng vậy. Các cô gái ăn sương "đi bộ" đầy đường, hễ gặp đàn ông là túm chặt. Và chỉ cần trao đổi vài câu, chắc là thoả thuận về giá cả, họ chia lẻ ra thành từng cặp, dắt nhau rẽ xuống bờ sông, hệt như những cặp tình nhân đến nơi hò hẹn. Bấy giờ tôi mới hiểu cái ý nghĩa "đi bộ" ở đây đã bị người ta biến báo thế nào. Lập tức tôi quyết định quay trở lại. Năm Sẹo giương to mắt nhìn tôi. Không thích à? Không! Sao lúc đầu rủ đi đã ưng liền? Vì tôi tưởng đi bộ thật. Tôi thích đi bộ theo đúng nghĩa đen của nó kia! Nhưng đi bộ thế thì mỏi lắm. Tớ đang mỏi nhừ cả gối đây này. Hay là ta tạm rẽ vào quán bia nghỉ nhé?
Tôi theo Năm Sẹo rẽ vào một quán bia gần đó. Quán này nằm giữa một khu vườn rộng, xung quanh có hàng rào bằng cây cảnh, nhìn ra đường lớn chỉ thấy thấp thoáng những làn xe chạy ngang qua. Bàn ghế dùng để ngồi uống bia là những gốc cây gần như còn nguyên dạng, mặt trên phẳng nhẵn nhưng bên dưới thì lỗi lõm xù xì với lớp vỏ cây chưa bóc, trông cũng hay hay. Lúc này quán đang đông khách nhưng dường như họ đã quá quen Năm Sẹo nên vừa thấy chúng tôi vào đã có người chạy đến. Rồi một gã bồi bàn mặc đồng phục, thắt lơ đen bưng ra một cái khay, trên đó có hai vại bia tươi và dăm gói thịt bò khô làm đồ nhậu. Vì mải ngắm bộ bàn ghế "thiên nhiên" ấy nên mãi đến lúc bắt đầu nâng cốc, tôi mới phát hiện ra ở giữa vườn có một sân khấu nhỏ, trên đó có dăm bẩy chiếc cột bằng dura sáng bóng. Một tốp thiếu nữ gần như khoả thân, chỉ có hai mảnh vải che người, lần lượt bước lên, mỗi cô ôm lấy một chiếc cột và bắt đầu biểu diễn. Trong ánh đèn mờ tỏ, tiếng nhạc xập xình, những tấm thân trắng ngộn thi nhau uốn éo, làm đủ các trò khêu gợi. Khán giả xung quanh vừa uống bia vừa gật gù xem. Đám này chủ yếu là đàn ông các nước sang du lịch, vừa từ Paris đi xe buýt đến. Chắc họ đã được ai đó mách rằng đây là một tụ điểm hấp dẫn, mới lạ hơn những khu ăn chơi khác ở Paris. Trong số đó có không ít những ông bụng phệ, hói đầu, cỡ tuổi bố mấy cô kỹ nữ kia, nhưng có lẽ không biết tiêu tiền vào việc gì nên suốt ngày chỉ nhăm nhăm săn tìm của lạ. Tôi vừa để ý quan sát họ vừa thi thoảng quay nhìn lên sân khấu. Xem ra cô nào cũng ra sức trổ tài, thể hiện sự quyến rũ của mình bằng những động tác si mê cuồng nhiệt, day bên nọ lắc bên kia, xoắn vặn mình quanh chiếc cột. Có cô còn thể hiện nỗi thèm khát nhục dục một cách bạo liệt, đến mức người ta có cảm tưởng chiếc cột dura trong tay cô ta biến thành gã đàn ông ngớ ngẩn. Điều đó thực sự đã gây kích động với không ít vị khách ngồi quanh đó. Nhưng tôi thì, thú thực, không hề cảm thấy gì. Chẳng phải tôi cố tình tỏ ra cao đạo, chỉ đơn giản là tôi không thích, thế thôi. Một tiết mục dù hấp dẫn đến đâu nhưng cứ diễn đi diễn lại nhiều lần sẽ không khỏi trở nên nhàm chán, huống hồ ở đây còn có một cái gì đó rất trơ lì, giả tạo và trắng trợn, một trò giải trí hạ cấp.
Thấy tôi ngồi im lặng, không tỏ thái độ phản ứng quyết liệt như lúc ở ngoài đường, Năm Sẹo có vẻ hơi đắc chí. C'est magnifique?(*). Tôi chưa kịp trả lời thì ông ta đã ghé vào tai tôi, nói nhỏ bằng tiếng Việt, dù biết thừa xung quanh chẳng ai hiểu cả. Nếu thích cô nào thì cứ chấm. Tớ sẽ đi lấy phiếu cho. Phiếu? Đúng vậy! Luật chơi ở đây nó thế mà. Ai thích ngồi xem thì cứ việc ngồi, còn nếu có nhu cầu thì lấy phiếu. Mỗi cô có một phiếu trên quầy, kèm theo ảnh. Bên kia còn có một khu vườn nữa, trong đó có rất nhiều lều cỏ. Khách chơi vào đó có thể ở bao lâu tuỳ thích, tất nhiên còn phụ thuộc cái này... Năm Sẹo đưa tay vỗ nhẹ lên túi ngực, trong đó có cái ví da đựng khoản tiền lương mới lĩnh hồi chiều. Tôi bật cười. Thì ra cứ mỗi kỳ lương, ông ta đều ném vào đây hết? Hình như đoán được điều tôi nghĩ, Năm Sẹo vội phân bua. Cứ thoải mái đi! Không đắt đâu mà. Cậu nên biết đây là quán bình dân, kiểu như cơm bụi ấy. Tuy nhiên bọn mình có vào cũng chỉ nên tính theo giờ thôi, chứ sức đâu mà xài đến sáng.
Tôi vui vẻ nhìn Năm Sẹo. Lúc này tôi thấy ông ta thật đáng yêu. Cái vết sẹo đỏ hồng, hơi choăn lại phía mang tai không hề làm gương mặt ông xấu đi mà ngược lại, càng gây ấn tượng về một trang hảo hán đầy cá tính. Tuy vậy, tôi vẫn lắc đầu từ chối lời đề nghị của ông ta, viện cớ hôm nay không được khoẻ. Còn nếu anh có nhu cầu thì cứ tự nhiên, tôi sẽ ngồi đây đợi. Tôi thích ngồi ngắm họ hơn. Ngắm nghía còn thích hơn sờ mó!
Năm Sẹo cười cùng cục như chú gà đạp mái. Ông ta hiểu tôi đã moliphe câu nói nổi tiếng của một văn hào Pháp:"C'est mieux contempler que le toucher". (**) Và sau một hồi cố tình chèo kéo mà không được, ông ta đành chặc lưỡi. Vậy thì thôi. Cậu cứ ngắm cho chán đi rồi về, hôm nào thật khoẻ ta lại đến. Thế được chưa?
Trên đường về, tôi chuyển sang hỏi Năm Sẹo chuyện đời tư, rằng sao anh không lấy vợ, bọn tôi còn trẻ đã đành, anh đã ngoại tứ tuần rồi, cao tuổi nhất ở đây, không tính đi thì muộn mất. Gái Việt mới tuyển vào nhà máy ta đầy ra đấy, sao không chọn lấy một cô, chả lẽ cứ độc thân như vậy đến già à? Năm Sẹo cười phe phé. Cậu kiếm giùm tôi một bà goá được không? Bọn trẻ toàn kêu mình là ba, xưng con ngọt xớt. Một rào cản ngất trời như vậy, làm sao vượt được đây? Chỉ sợ anh không dám quyết thôi. Nếu quyết thì có rào cản giời cũng đổ!
Tôi định phân tích dài dài nữa, nhưng thấy Năm Sẹo có vẻ hơi sốt ruột, lại thôi. Có lẽ ông ta chỉ đùa tếu cho vui, chứ không khoái đề tài này lắm.
Mãi sau này, trong một lần trò chuyện với Sanh, nhân nói về Năm Sẹo, tôi mới hiểu. Té ra từ hồi còn ở lính, ông ta đã từng yêu một cô nữ sinh ở Sài Gòn, nhưng sau đó cô này phản bội ông, chạy theo một sĩ quan người Mỹ. Từ đó Năm Sẹo vô cùng căm ghét đàn bà, thề độc rằng không bao giờ lấy vợ. Rào cản của ảnh là vậy đó! il n'y a qu'un obstacle qu'il ne puisse pas franchir, c'est le barrière du son coeur (*). Sanh mỉm cười nói vậy.
Những chuyến đi giao dịch với bạn hàng, theo cách nói của Sanh là đi công chuyện, là điều tôi thích nhất. Đó là thời kỳ Công ty chúng tôi bắt đầu có thương hiệu, sản phẩm làm ra chiếm được cảm tình của đông đảo khách hàng. Vì vậy ngoài vị khách bao tiêu cỡ lớn là Tập đoàn Francois, chúng tôi cần mở thêm đại lý ở nhiều nơi và phải luôn gặp gỡ bạn hàng để nắm được nhu cầu của họ mà cải tiến mẫu mã cho hợp mốt. Trong những chuyến đi "công chuyện" đó, Sanh thường kéo theo một vài người. Vì là phó của Sanh đồng thời trực tiếp điều hành sản xuất trong nhà máy, tôi thường phải ở nhà nhưng đôi khi tôi đề xuất, Sanh cũng vui lòng chấp thuận. Chắc anh cũng biết tôi rất thích đi du ngoạn đó đây. Làm việc với Sanh, tôi nhận thấy anh thực sự là một ông chủ doanh nghiệp với đúng nghĩa của từ này. Chắc tay, linh hoạt, quảng giao, sắc sảo và quyết đoán, khi tính toán làm ăn thì chặt chẽ từng đồng nhưng nếu cần cũng sẵn sàng chịu thiệt. Một lần chúng tôi đi thu nợ một khách hàng ở khá xa, mãi trên vùng núi. Dịp ấy đang giữa mùa hè, tiết trời nóng nực, đường đi lại lắm dốc nhiều đèo, đến nơi đã oãi cả người ra, vậy mà người ta lại xin khất mới bực làm sao chứ! Đó là một chủ thầu xây dựng, bạn hàng mới của công ty. Ông ta là người địa phương, đứng đầu một làng nghề, chuyên đi nhận thầu các công trình lẻ. Trước đó một năm, ông ta ký được một hợp đồng kha khá, sửa chữa và xây mới một số công trình cho thị trấn vùng cao, liền nhập của chúng tôi một lượng sản phẩm tương đối lớn, tính mét vuông phải lên tới con số hàng nghìn. Cả năm trời chưa thanh toán đồng nào, giờ lại nhăn nhó viện lý do này khác để hoãn binh. Cô kế toán trưởng trong đoàn chúng tôi mặt lạnh như tiền, lập tức giở sổ ra, đọc rành rọt từng khoản một. Gỗ tấm, gỗ thanh, gỗ làm khung cửa... mỗi loại bao nhiêu mét vuông, tính thành tiền là bao nhiêu, yêu cầu ông ta nếu không thanh toán hết thì cũng phải hoàn trả từng phần, không thể lùi mãi như thế được. Ông chủ thầu ra sức điều trần về những khó khăn gặp phải trong quá trình xây dựng. Nào thời tiết nắng mưa làm chậm tiến độ thi công, nào chủ đầu tư, tức chính quyền địa phương, còn đang huy động vốn, chưa thanh toán kịp, ngay đến tiền công của thợ mấy tháng nay cũng chưa có đồng nào... Cô kế toán trưởng vẫn tỉnh bơ. Đó là việc của các ông, chúng tôi không biết, chỉ biết rằng trong luật làm ăn, nếu quá hạn ba mươi ngày trở nên thì phải chịu phạt, quá nữa thì phải ra hầu toà. Có vậy thôi, ông tính sao thì tính. Khổ chủ nghe thế thì buồn hẳn, ngồi lặng đi không nói được câu nào. Không khí xem chừng có vẻ căng. Tôi liếc nhìn Sanh, thấy anh chăm chú nhìn đối tác, mỉm cười độ lượng. Bác có thể nói dứt khoát với tôi một tiếng được không, chính xác thì khi nào trả được? Xin giám đốc cho ba tháng nữa. Sau khi hoàn thiện công trình lớn trong thị trấn, quyết toán xong mọi khoản, nhất định chúng tôi sẽ hoàn trả hết các ngài, không sót một xu, xin lấy danh dự mà thề như vậy. Cô kế toán trưởng mở cặp lấy ra một mảnh giấy, định bắt ông chủ thầu làm giấy cam đoan, nhưng Sanh khẽ xua tay đứng dậy, tuyên bố cuộc gặp đến đây kết thúc và tất cả ra xe, về thẳng.
Trên đường về, mọi người đều bực dọc, thi nhau chê trách tay chủ thầu xây dựng, cho rằng ba tháng chứ đến sáu tháng sau, chưa chắc hắn ta đã thực hiện lời hứa vừa rồi. Tôi cũng nghĩ thế. Riêng Sanh chỉ ngồi im lặng, mãi sau mới nói. Các bạn yên tâm đi, tôi chắc thế nào ông ta cũng trả mà. Cô kế toán trưởng lắc đầu. Em nghĩ anh chủ quan quá đấy, cứ thả gà ra mà đuổi thế này thì rất mệt! Không đâu cô ạ. Nếu tôi không nhầm thì đây là một người tốt và thuộc loại làm ăn giỏi, ông ta chỉ chưa gặp may thôi. Sao anh biết ạ? Nhìn thì biết chứ. Vả lại hôm qua, khi quyết định đến đây, tôi đã cho người báo trước rồi. Nếu ông ta là kẻ tiểu nhân, hẳn sẽ tìm cách lánh mặt đi, đùn cho người khác tiếp. Nhưng không, ông ấy vẫn đợi chúng ta, tự mình chịu trận. Điều đó nói lên cái gì? Đó chính là chữ tín!
Nỗi ấm ức lập tức được giải toả. Mọi người vui vẻ chuyển đề tài. Họ không nhiếc móc ông chủ thầu xây dựng nữa mà quay ra khen giám đốc hết lời. Đang trong mạch nghĩ của mình, Sanh sôi nổi nói thêm. Các bạn biết đấy, người ta thường nói thương trường là chiến trường, còn sản xuất kinh doanh là cạnh tranh, sát phạt. Tôi cho rằng đó không hoàn toàn đúng. Riêng tôi, khi làm ăn với bất kỳ đối tác nào, điều tôi nghĩ đầu tiên là chữ tín, sau đó là chữ tình, rồi cuối cùng mới đến chữ tiền. Để giữ được chữ tín và chữ tình, đôi khi mình phải chịu thiệt đi một chút, nhưng cái thu được về sau sẽ lớn hơn gấp bội. Tôi nói thật đó, không cường điệu chút nào đâu. Làm ăn với ai cũng thế, điều cần thiết đầu tiên là phải làm cho họ tin mình, muốn vậy trước hết mình phải biết tin vào họ. Tôi đã học cách kinh doanh từ nhỏ nên hiểu chuyện này rất rõ. Kinh nghiệm cho thấy rằng, hễ ông chủ nào làm ngược lại điều tôi nói, tức là đặt chữ tiền lên trên hết, thì cho dù trước mắt có thể giành được nhiều lợi thế, phất như diều, nhưng sớm muộn rồi cũng mất bạn hàng thôi. Dù anh ta có quảng cáo thương hiệu của mình đến mấy, người ta cũng bỏ. Làm ăn như thế sao có thể lâu bền được?
Khác với Năm Sẹo, Sanh không hay giấu kín chuyện riêng. Anh thường tâm sự với tôi tất cả mọi điều, kể từ những khó khăn trong công việc hàng ngày cho đến những chuyện riêng tư hoặc trong quá khứ. Cố nhiên phải vào những lúc rỗi hoặc nhân một cớ gì khiến anh đột nhiên nhớ lại. Một lần có một bạn hàng đến tặng anh một lồng chim, trong đó có một đôi chim, không biết là chim gì, nhưng rất đẹp. Lồng chim ấy mà đem về treo trước cửa nhà anh thì rất tuyệt. Vậy mà Sanh lại tặng cho tôi. Tôi rất ngạc nhiên, nói rằng rất cám ơn tấm thịnh tình của bạn, nhưng lồng chim đẹp thế này mà treo ở chỗ tôi thì phí quá. Hơn nữa bọn tôi đi suốt ngày, chẳng có ai chăm sóc cả. Anh nên đem về cho mẹ con cô ấy thì hơn. Sanh đáp rằng quanh nhà tôi chim hót suốt ngày, cần gì phải nuôi chim nữa. Tôi thấy lý do này không hợp lý chút nào, liền hỏi gặng Sanh. Rút cục, thay cho lời giải thích, Sanh đã kể cho tôi nghe một kỷ niệm của mình thời thơ ấu.
Hồi đó Sanh mới mười một tuổi. Cũng như hầu hết bạn bè cùng lứa trong làng, Sanh rất thích chơi súng cao su. Chiều nào sau khi đi học về, cả bọn lại kéo nhau đi bắn chim tại những khu vườn rậm rạp quanh thôn xóm. Một hôm Sanh bắn rơi một con chim rất đẹp, nhưng không hiểu sao nó bị trúng đạn rồi mà không chết. Sanh nhặt nó lên và nhận ra đó là chim Vành Khuyên với cái mỏ màu hồng, bộ lông vàng mượt, làm nổi bật cái vành khuyên màu trắng nõn xung quanh cổ, trông rất thích. Sanh ấp nó trong tay, nghĩ rằng sẽ đem về tặng Quế, cô bạn ở gần nhà. Đã nhiều lần, mỗi khi bắn được một xâu chim, Sanh lại xách về cho Quế, định cùng cô vặt lông làm thịt, nướng ăn, nhưng lần nào Quế cũng một mực lắc đầu từ chối. Cô không muốn nhìn những con chim chết, càng không thích đem chúng ra làm thịt. Cô chỉ mong sao Sanh bắt được con chim còn sống về nuôi, nhà cô có sẵn một cái lồng nhưng chẳng có con chim nào cả. Khi bắt được chú Vành Khuyên, Sanh liền tìm một sợi dây, buộc vào chân nó rồi thả vào túi áo, còn đầu dây kia buộc vào con đỉa ở cạp quần. Chắc ăn rồi, Sanh mới chạy đi tìm Quế.
Vừa bước vào sân chợt có người chặn lại. Đó là bố Quế, ông trừng mắt nhìn Sanh. Mày đến đây có việc gì? Sanh sợ hãi không biết nói sao thì ông đã chỉ tay ra ngõ. Ra khỏi nhà tao ngay! Từ nay tao cấm chỉ, tuyệt đối mày không được đến nhà này, rõ chưa? Bác ơi, sao thế ạ? Hãy về hỏi bố mày thì biết! Nó đi theo bọn Nguỵ, trở thành ác ôn rồi. Bây giờ cả làng đều căm ghét bố con mày. Biết điều thì cuốn xéo ngay, đừng để tao phải suỵt cho chó đuổi. Nghe thế Sanh sợ quá, vội len lén chạy về. Đến nhà gặp bố cũng vừa bước vào sân. Ông mới ở đồn về, mặc quần áo nhà binh, đeo súng ngắn. Sanh bậm bực nói luôn. Sao ba lại đi theo bọn Nguỵ? Cái gì? Con không thích ba đi làm lính Nguỵ đâu. Người ta bảo ba là ác ôn đấy! Mẹ kiếp! Đứa nào nói vậy? Cả làng người ta đều nói thế! Con muốn ba thôi vào trại lính đi, về làm ruộng như mọi người mới tốt. Thằng nhỏ này! Mày học đâu cái giọng tuyên truyền Việt Cộng như vậy hả? Láo thiệt ha! Hãy chỉ cho ba xem những đứa nào thổi vào tai mày câu đó, để tao trị cho tụi nó một chầu biết mặt! Ông bố túm lấy Sanh, căn vặn đến điều, đe rằng nếu không khai thực sẽ trói vào tổ kiến. Sanh sợ lắm, nhưng vẫn khăng khăng không chịu, rồi nhân lúc ông đang bận tìm roi, vùng chạy ra ngoài. Ông bố rượt theo không kịp, giơ nắm đấm lên, quát rằng nếu mày theo Việt Cộng thì ông xé xác ra thành trăm mảnh.
Đêm ấy Sanh quyết định không về nhà ngủ. Cậu bé buồn khổ quá, buồn vì cả nhà mình bị dân làng ghét bỏ, buồn vì từ nay không được đến nhà Quế nữa, buồn vì trong túi còn chú chim rất đẹp mà không biết tặng ai. Cậu đi ra cánh đồng làng, lang thang trên nhưng thửa ruộng vừa mới gặt. Đồng tháng Năm vắng vẻ, gió nồm nam lộng lộng thổi về mát rượi, như muốn làm dịu đi nỗi bức bối trong lòng cậu bé, nhưng lại làm cho cậu buồn thêm. Buồn và mệt, Sanh dừng chân trên một cái gò nổi lên giữa cánh đồng, ngả lưng nghỉ tạm. Không ngờ ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Tỉnh ra trời đã sáng rồi. Sanh hốt hoảng ngồi lên. Việc đầu tiên là nhớ đến con chim trong túi, vội thò tay vào móc nó ra thì... ôi thôi, nó đã chết rồi! Không phải chết vì cả đêm nhịn đói, bản thân chủ nó cũng còn phải nhịn cơ mà. Nó chết là do lỗi ở Sanh, khi ngủ giở mình sang bên, đã vô tình đè lên nó. Thật là tội nghiệp! Sanh dùng tay bới đất trên gò, chôn con chim xuống rồi ôm mặt khóc nức lên. Tính Sanh xưa nay vốn rất gan lỳ, mấy lần bị bố say rượu đánh đòn, cũng chẳng bao giờ khóc. Đây là lần đầu tiên Sanh nhìn thấy những giọt lệ của mình. Nó thi nhau tuôn xuống như mưa, rơi lã chã xuống mộ con chim, ướt đầm cả mấm đất vừa mới đắp.
Từ đó, Sanh vứt hẳn chiếc súng cao su đi, thề không bao giờ bắn một con chim nào nữa. Đó cũng là lý do mà sau này, khi bố anh bị dân quân bắn chết, người ta đã định cưu mang cả gia đình và đưa Sanh về Sài Gòn ăn học, để rồi lại ra làm sỹ quan như bố, hưởng mức lương cao, nuôi được cả nhà. Nhưng Sanh vẫn kiên quyết chối từ, không nhận. Anh đưa mẹ và em trai ra thị xã làm ăn, tự đứng ra gánh vác gia đình từ năm mười bẩy tuổi. Làm ăn bươn trải tháng ngày, chẳng mấy lúc được ngơi tay, vậy mà cái kỷ niệm tưởng chừng rất cỏn con ấy cứ đeo bám suốt, cho mãi đến bây giờ, đến nỗi mỗi khi thấy ai xách một xâu chim, hoặc cái lồng chim, Sanh lại vội vàng quay mặt đi nơi khác.
Nhưng bây giờ bạn đã được đền bù rồi, hạnh phúc rồi, phải trả lại cho Quế cái lồng chim đó chứ? Tôi mỉm cười nói với Sanh như vậy. Sanh cũng cười. Một nụ cười khô héo, nó làm gương mặt vốn trẻ trung, sáng sủa của anh, trong thoáng lát, thấy già đi đến hàng chục tuổi. Tôi hiểu trong chuyện này, Sanh còn có nỗi buồn khác nữa, lớn hơn. Đó là sự sai lầm không sao gột rửa được của bố anh thời đó. Ngẫm ra trong cuộc đời, mỗi người đều có nỗi đau riêng, chẳng mấy ai toàn vẹn.
|
|
duchue
member
REF: 347318
05/20/2008
|
>>
xem chủ đề
Nếu em gió mát hây hây
Thì anh lại hóa thành cây chào mừng
Nếu anh là một cánh rừng
|
|
duchue
member
REF: 347285
05/20/2008
|
>>
xem chủ đề
Chương 12: Hồi ức chiến trường
Bấy giờ đơn vị tôi đang chốt giữ trên một điểm cao tại vùng giáp ranh đất Quảng. Tôi vừa được cử làm chỉ huy đại đội thay người Đại đội trưởng cũ đã hy sinh trong trận đánh cuối cùng ở khu Thành Cổ. Những ai từng có mặt ở chiến trường thời đó đều biết rõ, tại đây đã diễn ra một cuộc giành giật vô cùng quyết liệt, kéo dài đến gần ba tháng. Nói thực lòng, trong suốt những năm cầm súng đi chiến đấu, giáp mặt kẻ thù hàng trăm trận, tôi chưa thấy trận địa nào khốc liệt như cái trận địa này. Địch tập trung hỏa lực nhiều vô kể. Trên thì máy bay ném bom, dưới thì pháo dập từ hai phía, liên tục suốt đêm ngày. Thành Cổ nát tan, người chết không đếm xuể, đến mức người ta phải mệnh danh cho nó là cái "cối xay thịt". May mà khi đơn vị tôi được điều vào đó thì đã gần tàn cuộc, không đến nỗi tổn hại nhiều, thậm chí còn lập công lớn nữa. Nhưng dù sao thì trong ký ức của tôi, nó vẫn là một kỷ niệm buồn. Sau này, mỗi khi nhớ lại những ngày tháng ấy, nghĩ về cái nấm mồ chung ấy, tôi vẫn không khỏi ngậm ngùi, cảm thấy ở đây có cái gì không ổn. Và tôi thường liên tưởng đến sự sai lầm của Napoleon khi đổ quân vào "con đường trũng Ohanh" mà Victor Hugo đã mô tả trong tác phẩm của ông ngày trước. Có khác chăng là trong trận chiến với quân Anh thời đó, quân Pháp đã thua, còn ở đây thì ngược lại, quân ta đã thắng. Nhưng xét về sự thiệt hại thì...
Mà thôi, dù sao thì chuyện cũng qua rồi, tôi chẳng muốn bắt chước Victor Hugo, mô tả lại những gì mình đã chứng kiến trên cái trận địa này. Chuyện tôi muốn kể ở đây là Quế, một nữ giao liên đất Quảng, chuyên lái đò đưa bộ đội qua sông Thạch Hãn để vào Thành Cổ, ngăn chặn những cuộc tấn công của địch.
Còn nhớ buổi trưa hôm đó, đơn vị tôi tập kết bên này sông, chờ lệnh. Sau một hồi ầm ầm giội lửa, pháo địch đột nhiên câm bặt, bọn "giặc trời" cũng mất tăm mất tích. Chiến trường vụt trở nên im ắng. Cái im ắng của một con thú rình mồi. Và chúng tôi hiểu rằng đây là lúc bộ binh của chúng đang chuẩn bị xông lên. Đứng bên bờ sông nhìn sang khu Thành Cổ, tôi thấy những cột khói bốc cao, đen đặc, đang bị gió Lào thổi tạt ra phía biển. Liệu trong thành có còn ai sống sót không? Tôi thoáng nghĩ khi nghe tiếng Đại đội trưởng hô quân tập hợp, chuẩn bị xuống đò để sang sông. Ngay sau đó, tôi thấy một cô gái giong thuyền đến. Chính là Quế, người mà trên đường hành quân, chúng tôi đã được nghe người ta kể như một sự thần kỳ. Khúc sông này là một trọng điểm vô cùng ác liệt, máy bay địch quần đảo suốt. Chúng bắn rocket nhiều đến nỗi hai bờ sông trở nên trơ trụi và lở lói, không còn sót một bóng cây, ngọn cỏ. Không phải người thật tinh nhanh, gan dạ thì khó lòng trụ vững. Vậy mà Quế đã một mình chèo chống không biết bao nhiêu chuyến đò qua sông dưới mưa bom bão đạn, không biết bao lần thuyền của cô bị lật giữa dòng nhưng cô vẫn sống và tiếp tục chèo đi, hết chuyến này chuyến khác, như con thoi len lỏi qua những cột nước cao ngất do bom đạn dựng lên, lần lượt chở từng đoàn lính trẻ sang sông để vào trận địa.
Với giọng Đàng Trong líu ríu như chim, Quế giục mọi người nhanh chóng lên thuyền. Tôi bấy giờ mới là Trung đội trưởng, được cử dẫn một đoàn sang trước. Tôi đứng bên cạnh Quế, giúp cô chống sào đẩy thuyền ra và tranh thủ hỏi chuyện cô. Vừa mải miết chèo, Quế vừa cho tôi biết rằng đơn vị vào trước chúng tôi đã hi sinh gần hết, chỉ còn lại ba người, vì thế cấp trên lệnh cho cô phải đưa quân vào tiếp viện ngay. Tôi ngẩn người ra một lát, mãi sau mới cất lên lời được. Đi từ đây vào đó lâu không? Chóng thôi. Nhưng các anh cũng phải đi thật gấp thì mới kịp. Trong đó không còn hầm hố gì đâu, bom đạn giặc xới tung lên hết cả rồi, các anh phải cẩn thận không chúng nó lại câu pháo vào nữa thì nguy đấy! Nói rồi Quế giúi vào tay tôi một bọc bánh chè lam, món quà đặc sản của người xứ Quảng. Tôi chia cho đồng đội mỗi người một chiếc, tranh thủ ăn ngay ở trên thuyền. Không biết có phải vì miếng bánh có hương vị quế thơm cay đọng rất lâu trong miệng hay vì lẽ gì mà từ đó trở đi, tôi luôn nghĩ đến cô. Hình ảnh cô với dáng người cao, đứng hơi nghiêng phía trước, mớ tóc dầy cuộn lên thành một búi to sau gáy, tay chống sào lướt thuyền đi trên khúc sông đầy máu lửa, đối với tôi là hiện thân của sức sống mãnh liệt, đối lập với thần chết đang rình rập quanh mình, khiến tôi trong phút chốc quên hết mọi nguy hiểm đang chờ đợi. Và tôi bước lên bờ, dẫn quân đi như chạy vào Thành Cổ. Đến nơi thì vừa đúng lúc, từ cổng phía nam thành, bộ binh địch chia làm ba mũi, xông lên.
Nấp sau bức tường còn sót lại trên Thành Cổ, tôi thấy chúng tiến vào đông lắm, có dễ đến hơn một trung đoàn. Bọn tôi chỉ có hai tiểu đội, kể cả ba chiến sĩ còn lại của đơn vị trước, lực lượng mỏng hơn gấp nhiều lần so với địch. Tuy vậy, chúng tôi có lợi thế là ở vị trí cao và có nhiều chỗ nấp, nên không sợ. Chúng tôi cũng chia làm ba mũi, đón đánh địch từ xa, vừa bắn vừa nhắc nhau di chuyển luôn luôn để chúng không phát hiện ra là mình có ít người. Nhưng rồi địch vẫn phát hiện ra điều đó. Chúng hè nhau tràn đến, vượt qua được cổng thành, bắn rát từ hai phía, yểm trợ cho một toán lính leo lên định cắm cờ trên một ụ đất cao, vốn là một toà nhà bị bom đánh sập. Tình thế nguy cấp lắm. Nếu để chúng cắm được cờ trên điểm cao thì kể như ta đã mất thành. Tôi vội bảo mấy chiến sĩ trong nhóm của mình ở lại, tiếp tục đối đầu với bọn bên dưới, còn mình thì luồn qua một đường hào đến sát chân tường, nhằm bắn bọn cắm cờ ở mé trên. Chỉ một loạt đạn AK, tôi đã hạ gục được lá cờ lẫn toán lính kia, khiến mấy chục tên khác đang hò hét xông lên phải chùn cả lại. Vừa hay lúc đó, Đại đội trưởng của tôi xuất hiện, hô quân trợ chiến, bắn như quét lửa về phía địch. Trong chốc lát đã tiêu diệt hết đám quân vừa lọt vào thành. Những thằng sống sót vội vàng tháo chạỵ. Một lần nữa, quân ta lại bẻ gãy đợt tấn công của chúng.
Đêm hôm đó, địch tiếp tục câu pháo vào thành. Mặc dù chúng tôi đã biết trước việc này, cấp tốc đào hầm ngay sau khi bộ binh của chúng rút lui, nhưng không lại. Trận địa trong lòng Thành Cổ, khác nào nằm trong một cái nơm úp cá, không bị chỗ này bị chỗ kia. Chúng tôi mất thêm khá nhiều người, kiểm lại chỉ còn hai trung đội. Nan giải hơn là các cán bộ chỉ huy, trong lúc cùng mọi người lao ra cứu sập hầm, đều bị thương rất nặng. Tôi phải cho người đưa họ về tuyến sau và tự đứng ra chỉ huy đơn vị, tiếp tục bám trụ tại đây cho đến khi được lệnh rút quân về.
Đã vào nơi tuyệt địa thì chết là cái chắc. Mà thực ra thì lúc bấy giờ, chúng tôi coi cái chết như không. Nhưng sự may rủi cũng có quan hệ lớn, và tôi cho rằng chúng tôi đã gặp may. Bởi vì ngay sau đó, đột nhiên kẻ địch ngừng việc giội lửa từ xa vào Thành Cổ, ngừng luôn cả cuộc hành quân Lam Sơn mà chúng đã đặt nhiều hy vọng. Chúng tôi được sống yên ổn trong suốt thời gian trực chiến tại đây. Đã thế còn được tuyên dương công trạng nữa. Kể thì cũng xứng đáng thôi, nhưng riêng trường hợp của mình, tôi vẫn cảm thấy mình đã gặp may hơn là thực chất. Sau này, khi chính thức được phong quân hàm trung uý, làm chỉ huy đại đội, tôi mới biết rằng vào thời điểm đó, việc cắm cờ của chính quyền Nguỵ trên Thành Cổ, đối với họ là vô cùng quan trọng. Chỉ cần cắm được lá cờ trong chốc lát thôi, họ sẽ tức tốc quay phim chụp ảnh gửi đi để gây áp lực đối với Hội nghị bốn bên đang họp tại Pari lúc đó, hòng làm nghiêng lệch cán cân, làm thay đổi cục diện chiến trường. Nhưng họ đã không thực hiện được ý định này và bởi thế, cái thành tích "bắn gãy cờ địch" của tôi, tuy chẳng xuất sắc gì so với các chiến sĩ khác nhưng lại mang một ý nghĩa đặc biệt, nghiễm nhiên nó trở thành chiến công vang dội, và tên tuổi tôi cũng trở nên nổi tiếng khắp vùng đất Quảng.
Sau ngày tạm thời ngừng bắn, người ta tổ chức khá nhiều hội nghị mừng công. Lần nào tôi cũng được mời đi dự, gọi là đi báo cáo điển hình. Việc này được lặp đi lặp lại nhiều đến nỗi tôi thuộc lòng cả bài nói đó. Và có lẽ do ảnh hưởng từ cái tủ sách khá là vĩ đại của bố tôi, mỗi lần lên diễn đàn, tôi lại thêm thắt vào một ít, khiến cho câu chuyện ngày càng trở nên hấp dẫn, ly kỳ, và cũng rất khôi hài nữa. Chẳng hạn như chi tiết "buồn đi tiểu". Trong lúc địch đang ào ạt xông lên thì trong nhóm chúng tôi, có một cậu mót đi tiểu quá, nhưng không kịp, thành ra cứ vừa "đi" vừa bắn, trên bắn dưới cũng bắn, làm ướt hết cả người bên cạnh. Chi tiết này tôi bịa hoàn toàn, nhưng khán giả cứ tin là thật, họ cười lăn cười bò, trông rất sướng. Và tôi nghiệm ra rằng chính những đoạn hư cấu thêm như vậy đã giảm nhẹ đi rất nhiều những mặc cảm nặng nề về cái "cối xay thịt", đem lại cho mọi người sự lạc quan về cuộc chiến, nhất là với những anh lính trẻ từ ngoài Bắc mới vào.
Nhưng tôi sẽ đi lạc đề nếu cứ tự náo nhiệt với thành tích của mình như vậy. Xin được nhắc lại rằng chuyện tôi muốn kể ở đây là Quế. Trong hội nghị này, tôi đã gặp lại cô. Không hiểu sao trước đó cô lại nghe nói là tôi đã hi sinh, vì thế khi bất ngờ gặp lại nhau, cô mừng đến nỗi không nói được câu nào. Rồi bất ngờ cô lao vào ôm chặt lấy tôi, khóc nức lên như trẻ nhỏ, khiến tôi và tất cả những ai có mặt lúc bấy giờ, đều rưng rưng xúc động. Từ đó hai chúng tôi ngày càng trở nên thân thiết.
Trong suốt những ngày đi hội nghị, dường như tôi và Quế lúc nào cũng ở bên nhau, cả lúc ăn trưa lẫn khi dự họp. Và tôi không khỏi ngạc nhiên vì thấy cô khác hẳn lần gặp trước. Cái vẻ cứng cỏi và có phần thô tháp ở cô biến đi đâu mất, cô trở nên hiền dịu và uyển chuyển. Có thể vì lúc này cô ăn mặc khác đi. Thay cho bộ quân phục bạc màu là bộ quần áo lụa màu tím Huế, trông thật mềm mại. Mái tóc cũng không còn cuộn lên bù xù như trước mà buông xoã xuống ngang lưng, đen nhánh và thoang thoảng mùi hoa bưởi. Nhìn cô lúc nào cũng căng mọng như trái chín, tràn trề sinh lực và quả thật, rất gợi tình, tạo nên sự hấp dẫn đặc biệt, không chỉ với riêng tôi mà cả cánh mày râu. Chỉ cần nghe họ nhấm nhỉ nhau là đủ biết. Điều đó khiến tôi thêm hãnh diện vì ngoài thành tích chiến đấu ra, còn gần như được "sở hữu" cô trong những ngày này. Ngồi bên Quế giữa đám đông, thi thoảng tôi lại liếc nhìn cái cổ tay tròn lẳn và mát rượi của nàng. Trông thì mát mắt thế thôi nhưng chỉ cần khẽ chạm vào đã thấy nóng ran, và gương mặt bầu bĩnh rất ưa nhìn ấy cũng nóng bừng, cặp mắt lá dăm chớp chớp, ẩn chứa màu hoang dã như mắt người thiếu nữ vùng cao, khiến tôi nhiều lúc phải cố gắng lắm mới gạt đi được những ý nghĩ vẩn vơ chợt đến.
Những lúc tôi được mời lên nói chuyện, Quế đăm đắm nhìn tôi bằng ánh mắt tự hào, như thể tôi là của riêng cô vậy. Và khi tôi về chỗ sau một tràng pháo tay vang rộn, cô đón tôi bằng một nụ cười sung sướng. Anh ba nói hay quá! Chả bù cho Quế, mỗi lần lên chẳng biết nói chi, toàn phải nhìn vào giấy. Tôi cười. Nhưng thành tích của em thì anh sao bằng được, phải không nào? Anh khiêm tốn đó thôi, xem cả vùng này có ai lập công được như anh, bắn gãy cả cờ của địch cơ mà? Đó cũng là nhờ em đấy. Chính em đã truyền cho anh sức mạnh. Là cái bánh chè lam đó phải không? Quế nhìn tôi, cười lúng liếng, trông rất đáng yêu. Tiếc rằng đây chưa phải là thời điểm thích hợp để chúng tôi có thể tách riêng ra một chỗ. Mà Quế lại rất hay xấu hổ, hỏi chuyện riêng tư chỉ cúi đầu, nói lí nhí câu gì đó, thành ra suốt mấy ngày đi hội nghị, tuy liên tục gần gũi nhau nhưng cũng không tiến triển được gì. Không sao. Chỉ sợ đơn vị mình đột xuất chuyển đi chứ còn ở đây thì thiếu gì cơ hội. Tôi nghĩ vậy và tự chấn chỉnh mình, tỏ ra đứng đắn hơn trước con mắt đầy thiện cảm và ngưỡng mộ của những người dự họp.
Quế là người gốc vùng này. Mảnh đất bán sơn địa, nhưng núi rừng có vẻ nhiều hơn. Làng cô ở ngay dưới chân đồi, cách doanh trại chúng tôi không xa mấy. Những ngày im tiếng súng, khung cảnh thật êm đềm. Khói lam chiều phảng phất đó đây, vương bóng đàn trâu thấp thoáng trên sườn dốc, làm cho những ngôi nhà mới được dựng lại, dù chỉ bằng phên liếp sơ sài cũng toát nên một vẻ đẹp riêng. Ngày xuân hoa nở đầy thung lũng. Ngay cả những cây to bị bom đạn phạt ngang thân cũng nhanh chóng hồi sinh, trổ ra những nhánh lá xanh rờn. Dòng sông gần đó mới ngày nào còn sôi sục màu khói lửa, giờ đây cũng trở nên xanh biếc, mềm mại như dải lụa. Từ trên điểm cao lia ống nhòm xuống nhìn rất thú, nhất là những hôm trời nắng đẹp. Và tôi lại nghĩ đến Quế, nghĩ đến những lần gặp gỡ vừa qua, cảm thấy lòng mình trào dâng một nỗi khát khao, rạo rực, chỉ muốn tìm đến cô ngay lúc đó. Không hiểu sao tôi cứ đinh ninh rằng chỉ cần mình tự nguyện tìm đến là cô sẽ sẵn lòng tiếp nhận, và...
Vậy mà tôi đã lầm. Mọi chuyện không hề đơn giản như tôi tưởng.
Một buổi sáng, tôi vừa đi kiểm tra ở một điểm cao về thì được tin bà con trong làng bắt được một tên biệt kích. Họ đang giong đến bìa rừng và định treo cổ hắn lên một cây cổ thụ. Lập tức tôi lao đến đó. Quả nhiên như vậy, người ta đang ròng một cái thòng lọng to bằng cổ tay từ trên cao xuống. Bên dưới là một thanh niên mặc thường phục bị đám đông vây chặt xung quanh, mặt tái xanh tái xám, chắc là tên biệt kích mà họ vừa bắt được. Tiếng người kêu khóc lu loa lẫn trong tiếng quát tháo om xòm. Dừng lại trên một gò cao gần đó, tôi sửng sốt cả người vì kinh ngạc. Trước mắt tôi là Quế. Cô đang quỳ dưới chân ông Xã đội trưởng dân quân tự vệ, cuống quýt xin tha mạng cho tên biệt kích. Thảo nào tôi nghe tiếng quen quen. Chú ơi! Con xin chú. Anh ấy không có tội. Anh ấy chỉ sang thăm cháu thôi mà, đâu phải là biệt kích! Im ngay! Mày không biết thằng bố nó là đại uý Nguỵ sao? Không biết bố nó đã giết hại bao nhiêu người ở cái làng này sao mà còn xin cho nó? Vâng con biết, con biết mà thưa chú! Nhưng ông ấy chết rồi. Cách mạng đã trừng phạt ông ấy rồi. Còn anh ấy thì... Cút đi! Tôi còn chưa hỏi tội chị đâu. Chiến sĩ thi đua gì mà lại đi dan díu với quân phản quốc! Thật không biết nhục! Biết điều thì lui ra, để tao xử trí tên này...
Hỏi ra mới biết, họ là người cùng làng. Kẻ bị dân quân bắt tên Sanh, trước kia ở gần nhà Quế và hai người đã thân nhau từ nhỏ. Sau này, khi chiến tranh xảy ra và ngày càng lan rộng, làng bị chia tách làm đôi, một nửa theo ta, một nửa theo quân Nguỵ. Cứ sau mỗi trận càn, thù hận giữa hai bên ngày một khoét sâu hơn. Bố Sanh, một sĩ quan quân đội Cộng Hoà, có lần đụng độ với quân ta, đã bắn chết anh trai ông Xã đội trưởng dân quân tự vệ, rồi ít ngày sau, y lại bị quân ta phục kích và bắn chết. Từ đó gia đình Sanh bỏ làng, trốn biệt đi nơi khác, không hiểu sao lúc này anh ta lại đột nhiên xuất hiện.
Không phát hiện ra tôi vừa đến, ông Xã đội trưởng dân quân đẩy mạnh Quế ra, với tay túm sợi dây thòng lọng, lôi tuột xuống. Đám đông hùa theo ông ta, thi nhau la hét. Giết nó đi! Giết nó đi! Quế vùng vẫy kêu gào nhưng bị họ hất ra, ngã dúi dụi bên vệ cỏ. Chợt cô nhìn thấy tôi, vội vàng nhào tới. Anh ơi, giúp em với, hãy cứu lấy anh ấy. Anh ấy không có tội! Tất nhiên việc này dù Quế không nói tôi cũng phải làm. Không thể để bà con tự ý trả thù nhau như thế được. Tôi lập tức nhảy khỏi gò, vẫy mấy cậu cùng đi, tiến vào can thiệp. Dân làng đều đã biết tôi từ trước, tự động rẽ ra nhường lối cho chúng tôi vào, nói chuyện với ông Xã đội trưởng dân quân. Cách tốt nhất để giải toả chuyện này là giở luật nhà binh, yêu cầu xã giao lại tên biệt kích cho quân đội. Tôi nghĩ vậy và để việc thương thuyết thuận lợi hơn, trước hết tôi lên tiếng biểu dương tinh thần cảnh giác cao độ của bà con, đặc biệt là đồng chí Xã đội trưởng dân quân tự vệ, sau đó mới ôn tồn đưa ra giải pháp của mình, khuyên mọi người không nên manh động. Chúng tôi sẽ giải tên biệt kích này về Bộ chỉ huy quân sự tiền phương, để các thủ trưởng thẩm tra xem hắn đến đây do thám cái gì rồi xử lý sau cũng còn chưa muộn. Nghe tôi nói, ông Xã đội trưởng gật đầu ưng thuận và sau khi giao lại tên biệt kích cho tôi, ông ta quay ra bảo bà con giải tán, còn Quế thì ông bắt phải theo về xã để làm kiểm điểm.
Tại chỉ huy sở của mình, một mặt tôi điện lên cấp trên báo cáo về sự việc xảy ra, một mặt tôi tranh thủ hỏi cung tên biệt kích. Theo lời khai của Sanh thì hiện giờ đang tiết Thanh minh, thấy làng quê trở lại yên bình, anh ta cùng mẹ và em trai, đang làm ăn ngoài thị xã, tranh thủ về đắp mộ cho cha. Lúc quay ra tình cờ gặp Quế, bèn nán lại chuyện trò, không ngờ bị dân quân bắt giữ.
Tôi hỏi Sanh về quan hệ giữa hai người. Anh ta đáp rằng chỉ là bạn bè thôi. Nhưng cái vẻ ngượng ngùng của anh ta khiến tôi phát bực. Nghe nói anh định rủ cô ấy trốn ra thị xã phải không? Đâu có! Tôi chỉ kể qua cho cô ấy nghe chuyện làm ăn ngoài đó thôi mà. Và anh còn dò hỏi cô ấy về nhiều chuyện trong này nữa chứ? Dạ, tôi có hỏi thăm chuyện gia đình, nhà cửa... Nghĩa là anh có ý định sang do thám phải không? Dạ không đâu ạ. Tôi là dân làm ăn, kinh doanh thuần tuý trên phố huyện, đâu có biết chuyện gì mà do thám ạ? Vậy anh có biết rằng bước qua ranh giới qui định là phạm luật không? Dạ, tôi biết ạ. Nhưng vì cô ấy...
Vì cô ấy? Vì cô ấy chủ động gọi hắn sang, hay vì cô ấy mà hắn bất chấp mọi luật lệ, dám cả gan vượt qua ngoài giới hạn của mình? Chiến sĩ thi đua gì mà lại đi dan díu với quân phản quốc! Tôi sực nhớ lại câu nói của ông Xã đội trưởng dân quân và cảm thấy hơi nóng mặt. Hừ! Ra cô nàng này gớm thật! Thế mà trong hội nghị mừng công, hỏi đến chuyện riêng cứ lắc đầu quầy quậy. Chưa cùng ai, chưa cùng ai! Tưởng đâu cô ta đang mong đợi nơi mình...
Đang ngấm ngầm bực dọc với những suy nghĩ đó, tôi nhận được cú phôn từ Trung đoàn xuống, cho biết trên đã nhanh chóng cho thẩm tra "đối tượng" và xác nhận hắn là dân thường thực sự, hiện đang sinh sống ngoài thị xã. Trên lệnh cho tôi thả hắn ra, nói thêm rằng thời điểm này ta cốt yên dân, không nên làm gì to chuyện.
Nhận điện xong tôi quay lại, nghĩ rằng trước khi thả Sanh ra, phải dọa già một mẻ cho hắn sợ, để từ nay chớ có dại mà mò đến nữa. Nhưng tôi chưa kịp nói gì thì Quế đến. Nhìn vẻ mặt vừa lo âu vừa có phần thách thức của cô, tôi vụt hiểu. Sẽ không gì ngăn cản được cô trong việc bảo vệ "tên biệt kích" này. Đành vậy. Nếu quả thực họ đã hết lòng với nhau thì mình cũng chả nên cố chấp. Vả lại giữa mình với cô ta đã có gì đâu? Tôi từ bỏ luôn cái ý định dọa nạt vừa rồi, chỉ dặn Quế một vài điều cho phải phép rồi giao lại cho cô người bạn "phía bên kia". Quế mừng ra mặt, còn Sanh thì cám ơn rối rít. Sau đó hai người đưa nhau theo lối tắt ra phía bờ sông. Tôi không tiễn, chỉ lặng lẽ đứng nhìn theo họ. Tự nhiên tôi nhớ đến câu chuyện của bố mình ngày trước và bất giác mỉm cười. Đôi khi lịch sử thường lặp lại. Ai đã nói câu đó nhỉ?
Chương 14: PHỤC CHỨC
Chương 14 (p1)
Chuyện riêng của Quế và Sanh kể ra cũng dài dài, nhưng có lẽ hãy tạm dừng ở đó. Họ đang hạnh phúc mà, khơi lại chuyện cũ chẳng để làm gì cả. Chỉ biết rằng khi chiến tranh kết thúc, trở lại tìm nhau, hai người vẫn gặp nhiều rào cản. Làng quê đã không còn chia cắt nhưng lòng người thì vẫn cắt chia, không dễ gì hàn gắn được. Mẹ Sanh buồn khổ quá mà lâm bệnh chết. Còn bố mẹ Quế thì cấm cô được đến với Sanh. Đó là lý do khiến họ phải đành lòng rời bỏ quê hương, xây hạnh phúc ở chân trời khác.
Vào thời kỳ tôi gặp lại Quế và Sanh trên đất Pháp, hai người đã có một bé gái bốn tuổi và mới mua được ngôi biệt thự trong thị trấn. Ngôi biệt thự hai tầng xinh xắn, sàn nhà trải thảm xanh mềm, gian phòng khách bài trí rất trang nhã, bàn ghế đánh vec ni bóng lộn. Một góc phòng đặt cái bể cá bằng thuỷ tinh trong suốt, gợi lên cả một thế giới trẻ thơ huyền diệu. Cửa sổ nhìn ra một vườn cây được chăm sóc cẩn thận, trông khá là đẹp mắt.
Cô giao liên trong đoàn quân giải phóng năm nào, nay đã trở thành bà nội trợ của ông chủ xưởng. Hôm mấy anh em tôi kéo đến thăm nhà, Quế vui mừng lắm. Cô sửa một mâm cỗ theo đúng phong tục Việt, thắp hương khấn vái tổ tiên, lại dành một mâm cúng ngoài sân nữa, làm cho cả bọn anh nào cũng nhớ nhà. Quế còn đãi chúng tôi món bánh chè lam xứ Quảng mà cô đã cất công chế biến từ đêm trước. Thật là cảm động. Chúng tôi vừa ăn vừa ôn lại những kỷ niệm một thời. Mới chưa đầy chục năm nhưng có lẽ vì ở xa đất nước, nên cứ ngỡ như cách hàng thế kỷ. Cố nhiên trong buổi gặp mặt này có cả Năm Sẹo và út Cường, thằng em ngỗ ngược của ông chủ xưởng. Lúc này chú ta đã nhận ra lầm lỗi của mình nên tỏ ra rất biết điều, coi tôi như một người anh lớn. Vậy là mọi chuyện được hoàn toàn giải toả, bây giờ thì chúng tôi không chỉ coi nhau là đồng hương mà hơn thế, còn thân thiết như những người ruột thịt.
Làm tại xưởng cưa được vài tuần, một hôm đi đâu về, Sanh cho người xuống mời tôi lên phòng bàn việc. Anh cho biết mình đang có ý đồ thành lập công ty, nâng cấp xưởng cưa lên thành nhà máy. Tôi gật đầu. Tốt quá! Vấn đề là nguồn vốn đầu tư... Việc đó ta sẽ tính. Trước mắt tôi muốn tham khảo ý kiến anh về dự án này. Anh có nhiều kinh nghiệm về xây dựng, rất có thể tôi sẽ giao cho anh việc giám sát thi công phần vỏ. Sanh lục tập hồ sơ trong tủ tài liệu, lấy ra một tấm bản vẽ, trải lên bàn. Đã quá quen với việc này, tôi đọc ra ngay đây là bản thiết kế tổng thể cho một nhà máy chế biến gỗ, được mở rộng trên một mặt bằng rộng lớn bên cạnh xưởng. Xem ra qui mô khá lớn, máy móc thiết bị cũng tăng gấp nhiều lần. Sanh cho biết thêm rằng đây là gợi ý của Francois, nếu quyết làm thì mọi thủ tục về đất đai nhà xưởng, ông sẽ lo liệu giúp. Ngoài ra ông còn giới thiệu cho một số chuyên gia đến hướng dẫn về việc ngâm tẩm và bảo quản gỗ sau khi thành phẩm. Còn nguồn vốn, nhân công sẽ huy động một số cổ đông người Việt đang làm ăn ở thị trấn này. Họ sẵn lòng tham gia nếu như dự án được thực thi. Đến đây Sanh ngẩng lên nhìn thẳng vào tôi, cười tủm tỉm. Anh sẽ là một trong những cổ đông nặng ký của công ty này đó! Thế nghĩa là sao? Anh đoán thử xem nào? Tôi nhún vai, bắt chước y hệt cử chỉ của Sanh mà đôi lúc tôi bắt gặp. Điều đó làm Sanh hơi khoái chí. Sao, chịu hả? Thế này nhé, bây giờ anh hãy về chuẩn bị đi, sau đó sang đây đi với tôi một chuyến. Ta sẽ vào thành phố, gặp ngài Chủ tịch Tập đoàn, rồi anh sẽ hiểu. Sáng nay ngài có nói chuyện với tôi qua điện thoại.
Lần đầu tiên được biết Pari, nhưng đây chưa phải lúc tham quan nên mặc dù đang hoà mình trong khung cảnh rộn ràng náo nhiệt, thổi vào hồn tôi một giai điệu sôi nổi âm vang của một thành phố đẹp vào loại nhất hành tinh, tôi vẫn chưa thể để tâm đến chúng. Đôi lúc tình cờ nhìn thấy một vài hình ảnh đầy hấp dẫn trên đường, tôi định hỏi Sanh về nó nhưng lại thôi. Sẽ còn nhiều dịp, vội gì! Vả lại từ lúc nghe câu nói lấp lửng của Sanh, rằng tôi sẽ là một cổ đông nặng ký của công ty, trong đầu tôi cứ luẩn quẩn với một câu hỏi khác, nó làm tôi phấp phỏng suốt dọc đường, chỉ mong chóng đến nơi làm việc của Francois để được lời giải đáp.
Đó là một toà nhà ở trung tâm thành phố. Toà nhà không lớn lắm nhưng sân rất rộng với vô số những bồn hoa, cây cảnh. Chính giữa sân là một cái đài phun nước khá cao, trông xa tựa một bông hoa tuyết. Một phần sân là bãi đỗ xe. Những chiếc xe con sang trọng đỗ thành mấy dãy dài dưới rặng cây rợp mát. Một tốp người từ trong toà nhà đi ra, tháp tùng một ông chủ thân hình cao lớn, đầu đội chiếc mũ phớt bằng dạ đắt tiền, tay chống chiếc can chạm trổ tinh vi. Mấy người cùng đi phong thái xem ra cũng rất đàng hoàng, như thể các nhà chính khách đi dự cuộc hội kiến ngoại giao. Qua đây có thể thấy bạn hàng của Tập đoàn này đều thuộc loại siêu sao cả.
Sau khi lùi xe vào một góc sân, Sanh dẫn tôi qua mấy bậc tam cấp, đẩy nhẹ cánh cửa quay bằng kính khá dày, đi vào gian tiền sảnh lát đá đen bóng loáng. Có lẽ người thường trực văn phòng đã quen Sanh từ trước nên anh bỏ qua thủ tục ban đầu, chỉ gật đầu chào ông ta rồi dẫn tôi đi thẳng vào thang máy.
Trước khi vào phòng làm việc của Francois, chúng tôi phải qua phòng thư ký. Một cô gái tóc vàng, đội chiếc mũ nồi xanh rất điệu làm tôi sửng sốt. Rõ ràng đây là hình ảnh gây ấn tượng đầu tiên khi chúng tôi đến xứ này. Có thể là sự trùng hợp ngẫu nhiên nhưng tôi vẫn thấy hơi là lạ, như báo trước một điều gì. Quả nhiên Sanh khẽ máy tôi, cho biết đó là Lyda Sonaye, con gái ngài Chủ tịch Tập đoàn. Suýt nữa thì tôi thốt kêu lên nhưng kìm lại được. Thái độ của Sanh nghiêm cẩn quá. Tôi vội vàng chỉnh đốn lại mình, lặng lẽ làm theo từng động tác của anh. Hai chúng tôi từ tốn tiến lại gần bàn điện thoại, lễ phép nghiêng mình chào cô gái. Lyda cũng gật đầu chào lại và nhìn tôi với vẻ tò mò. Thấy vậy Sanh liền giới thiệu tôi với Lyda đồng thời đóng luôn vai phiên dịch. Nghe xong, Lyda vui vẻ hẳn lên. Cô nghênh mặt nhìn tôi, cái nhìn của một cô em gái đang muốn bắt nạt anh rồi nắm tay tôi rất chặt. Em đã nghe ba em nói từ hôm ở đó về, thế mà bây giờ anh mới đến? Sanh dịch cho tôi nghe như vậy. Tôi cười ngượng nghịu, viện lý do bận việc, nói thêm rằng việc tình cờ gặp ba cô là một cơ may đối với tôi. Sanh lại dịch cho Lyda nghe như vậy. Lyda nhoẻn miệng cười. Ba em cũng nói như thế đấy. Ông bảo rằng điều hạnh phúc nhất của ông trong chuyến đi công cán vừa rồi là gặp được anh. Sanh lại dịch cho tôi nghe như vậy. Tôi nói còn anh thì rất lấy làm hân hạnh được gặp em trong buổi đầu tiên vào thành phố. Câu nói hay thế mà Sanh không kịp dịch, một hồi chuông điện thoại ré lên làm ngắt quãng. Lyda vội buông tay tôi, nhấc máy trả lời, sau đó cô vui vẻ ra hiệu cho chúng tôi vào gặp Francois ở phòng trong: Chef vous attend! Sanh dịch là: Sếp đang chờ đấy!
Thấy tôi và Sanh đi với nhau thân thiết lắm, Francois tỏ ra rất hài lòng. Sau khi hỏi thăm tôi về tình hình công việc, nơi ăn chốn ở, ông bắt đầu đi vào chuyện chính. Nghe Sanh trình bày dự án của mình xong, ông gật đầu, cho biết ông đã liên hệ với một số quan chức sở tại và họ đã nhận lời giúp đỡ, giờ chỉ việc tiến hành làm thủ tục là xong. Riêng về nguồn vốn đầu tư, ngoài số vốn tự có và các khoản do cổ đông đóng góp mà Sanh đã huy động được, ông sẽ giúp một phần, và khoản tiền này sẽ đứng tên tôi. Ông mỉm cười quay sang tôi, bảo đó là khoản viện trợ không hoàn lại. Đã đoán trước điều này nhưng tôi vẫn cảm thấy hơi đột ngột, lúng túng không biết nói sao, còn Sanh thì mừng ra mặt. Tính ra khoản tiền Francois chuyển cho tôi bằng một phần ba tổng số vốn đầu tư cho dự án này. Vậy là anh sẽ trở thành thành viên sáng giá của Hội đồng quản trị công ty đấy nhé! Sanh cười nói với tôi như vậy và có lẽ do đang cơn hưng phấn, anh hứa luôn với Francois rằng ngay sau khi ở đây về, sẽ cử tôi làm phó giúp việc anh. Việc đó tuỳ anh, miễn sao cho hợp lý thì làm. Francois bảo Sanh như vậy rồi quay lại phía tôi. Nhưng phải khẩn trương học tiếng Pháp đi cháu nhé. Sắp tới còn phải giao dịch nhiều với bạn hàng, không thể lúc nào cũng kè kè một anh phiên dịch được. Và nếu sau này công ty làm ăn phát đạt, có khả năng xuất khẩu hàng đi các nước, thậm chí còn phải biết tiếng Anh nữa đấy. Dạ vâng, cháu hiểu ạ. Tôi vịn tay lên vai Sanh, nói. Có anh Sanh bên cạnh đây thì chú khỏi lo, anh ấy biết cả hai thứ tiếng châu Âu, cháu sẽ học rất nhanh chú ạ. Vậy thì tốt. Chú mong cháu sớm thành đạt ở đất này. Francois lấy trong ngăn kéo ra tấm carte của mình, đưa cho tôi, hẹn lúc nào rỗi đến chơi nhà. Tôi cám ơn ông, đáp rằng tôi coi việc đó là một nghĩa vụ của mình, nhưng sau đây chắc mọi người sẽ bù đầu vì công việc, nên không dám hẹn trước hôm nào cả. Vả lại cháu muốn dành thời gian để học tiếng Pháp cho tốt đã, chẳng lẽ khi đến thăm gia đình ta, lại phải phiền chú làm phiên dịch? Francois lắc đầu cười. Anh chàng này cũng giỏi khôi hài thật, hệt như ông bạn của tôi ngày trước.
Sẽ trở nên dông dài nếu như bây giờ tôi đem chuyện thực thi dự án ra kể lại. Còn gì vô duyên hơn khi tâm sự với bạn bè mà chỉ nói toàn những công việc và công việc. Nhưng quả thực đối với tôi, đó là một khoảng thời gian đầy ý nghĩa. Không phải vì, do sự trợ giúp của ông chú nhận, nghiễm nhiên tôi trở thành thành viên của Hội đồng quản trị công ty mà cố tình khoe mẽ, hoàn toàn không phải vậy. Đó chỉ là điều kiện cho những gì sẵn có trong tôi nảy nở, một mảnh đất màu cho mầm cây thả sức vươn lên. Điều quan trọng ở chỗ đó là giống cây gì. Không biết ai thế nào, riêng với tôi, cuộc sống chỉ thật sự có ý nghĩa khi mình bị hút vào một niềm đam mê gì đó, nhất là khi mình ý thức được rằng nó là cái đang được nhiều người trông đợi. Bởi thế, khi được cử ra đảm nhận việc giám sát thi công phần vỏ nhà máy, với sự giúp việc của người trợ lý cực kỳ tinh nhanh tháo vát là Năm Sẹo, tôi đã dồn hết tâm lực của mình vào việc đó. Và, do có được cái vốn kinh nghiệm kha khá được giấu kỹ trong "túi khôn" từ những năm làm đội trưởng công trình, lúc này được dịp tung ra, khiến nhiều người phải ngạc nhiên, nể phục. Ngay cả đội quân xây dựng do Francois phái đến, gồm toàn những tay thiện nghệ với cả một hệ thống thiết bị được xem là tân tiến nhất lúc bấy giờ, cũng không dám xem thường. Mà không chỉ về khả năng chuyên môn thuần tuý thôi đâu, còn cả cách xử lý từng việc lớn nhỏ nảy sinh trong mọi tình huống nữa.
Một lần vào giờ tan tầm chiều, tôi vừa cùng Năm Sẹo đi kiểm tra một số hạng mục công trình về thì thấy trong một phân xưởng vừa hoàn thiện, út Cường đang cãi cọ với mấy người thợ lắp máy người Pháp. Theo yêu cầu của Giám đốc Sanh, họ được người ta cử đến để lắp thử một chiếc máy mà anh vừa mới mua về. Việc cũng đơn giản thôi nhưng xem chừng mấy cha thợ máy này làm phách tợn, khi làm thì vứt bừa bãi đồ nghề xuống đất, lúc xong không chịu thu về, ngồi vểnh râu hút thuốc. Thấy út Cường từ trong xưởng cũ đi ra, chúng liền chặn lại, bắt cậu ta phải nhặt lên, bỏ vào hộp cho mình. Tất nhiên út Cường không đời nào chịu lép, cậu ta không nhặt. Thế là vặc nhau ầm ĩ. Tôi vội chạy vào can, nhưng có lẽ do cả tôi và Năm Sẹo đều mặc quần áo thợ, lại thấy tôi nói với út Cường bằng tiếng Việt, nên mấy gã kia có ý coi thường. Một tên cười khẩy:"Annamit cochon!" (*) Tôi hiểu câu nói đó, nên giận sôi người, túm luôn ngực hắn, suýt nữa thì cho hắn một quả tống vào giữa mặt, nếu không nghe thấy Năm Sẹo hét toáng lên bằng tiếng Pháp. Chắc là nói cho họ biết tôi là một nhân vật quan trọng ở đây. Tôi thấy mấy tay kia ngớ cả ra rồi rối rít xoa tay, xin lỗi. Nhưng tôi quyết không tha. Làm sao có thể tha thứ cho một kẻ dám cả gan lăng mạ dân tộc mình như vậy? Tôi bảo Năm Sẹo tập trung tất cả anh em lại, tuyên bố đuổi thẳng tên chửi bậy vừa rồi ra khỏi xưởng.
Thực ra họ không phải là người của công ty, có đuổi nó cũng không mất việc, nhưng đây là một vết nhơ về danh dự. Có lẽ vì vậy mà ngay sau đó, viên đốc công của họ vội vã đến gặp tôi, ngỏ ý xin lỗi về việc xảy ra và xin cho tay thợ kia trở lại. Nể mặt anh ta, tôi đồng ý, nhưng vẫn qui hắn vào tội "les actions de discriminations,(**) điều mà Chính phủ Pháp lúc này đang cấm, buộc hắn phải viết một bản kiểm điểm trình lên Giám đốc Sanh, nếu không, không những không tha mà còn báo cho nhà chức trách để phạt giam hắn nữa.
Đấy là Năm Sẹo cố vấn cho tôi làm như vậy, chứ tôi đâu có biết người ta cấm những gì. Cao thủ hơn là khi dịch lại lời tôi nói, ông ta còn cho viên đốc công nọ biết thêm rằng tôi có quan hệ mật thiết với ngài Chủ tịch Tập đoàn Francois, người có ảnh hưởng lớn đối với chính quyền sở tại. Vì thế nghe Năm Sẹo nói xong, tôi thấy ông ta sợ xanh cả mắt.
Sau khi viên đốc công người Pháp về rồi, tôi và Năm Sẹo nhìn nhau cười rộ. Chuyện nhỏ thôi nhưng nếu nâng quan điểm lên thì đến Tây cũng chết!
Tuy nhiên, trừ một vài tay cứng đầu cứng cổ cần phải trị đến nơi đến chốn, phần lớn những người thợ ở đây làm việc có tính kỷ luật cao, đi về rất đúng giờ và làm đâu được đấy chứ không lộ cộ như ở bên mình. Bởi vậy, chất lượng cũng như tiến độ thi công nhà máy khá an toàn, đảm bảo. Chỉ chưa đầy một năm sau, nhà máy đã hoàn thành một cách mỹ mãn, không thể chê vào đâu được. Một lần nữa, công đầu lại thuộc về tôi. Kể ra cũng là một điều may, vì ngay sau đó, khi công trình được bàn giao, chính thức đi vào hoạt động, không chỉ riêng Sanh mà cả Hội đồng quản trị công ty đều thống nhất giao cho tôi trọng trách điều hành sản xuất trong nhà máy, chỉ huy hơn một trăm quân, toàn người Việt. Vậy là tại đây, tôi lại được trở về đúng với cương vị của mình. Nhưng điều tôi cảm thấy hãnh diện hơn là tôi với Sanh, cùng những người cộng sự, bằng những nỗ lực không mệt mỏi trong suốt một năm ròng, đã tập hợp được một cộng đồng Việt Nam độc lập ngay trên đất Pháp.
Suốt một năm ròng vất vả, vừa làm vừa học tối ngày nhưng cũng đầy hứng thú. Bốn cậu đi cùng, những thằng em dại của tôi, lúc này đều được xếp vào chân quản đốc các phân xưởng, cũng say mê chẳng kém. Cả bọn lăn ra làm hùng hục, cả năm không nghỉ lấy một ngày. Thứ bẩy, chủ nhật lại bò ra học tiếng nước ngoài. Chẳng phải ai mà chính Năm Sẹo là thầy dạy. Cũng như Sanh, ông ta giỏi cả tiếng Anh tiếng Pháp nên việc học của chúng tôi khá là thuận lợi. Dĩ nhiên trước hết ông ta dạy chúng tôi tiếng Pháp, chủ yếu là học nói còn ngữ pháp, chính tả thế nào thì ông ta cũng chịu. Bọn tôi phải tự mày mò tìm hiểu. May mà ở đây các loại sách đều có đủ, và để nắm được cách cấu trúc câu trong hội thoại cũng như việc đọc hoặc viết văn bản bằng thứ tiếng này cũng không phải là khó lắm, vì vậy chúng tôi tiến bộ rất nhanh. Cũng phải nói thêm rằng Năm Sẹo là một ông giáo cực kỳ khó tính, một thời gian dài ông ta đòi chúng tôi phải tạm quên đi tiếng mẹ đẻ, suốt ngày chỉ nói tiếng Tây. Gặp nhau mà chỉ nhỡ mồm nói một câu tiếng Việt là ông ta quay ngoắt đi lập tức. Còn anh em tôi cũng có kỷ luật riêng, nói vụng Năm Sẹo chứ, thực tình chúng tôi không thể để mình rơi vào tình trạng mù chữ như "thầy" được. Mỗi buổi sáng, trước khi đi làm, tôi yêu cầu cả bọn phải tập trung đọc báo mười lăm phút. Không cốt nắm tình hình thời sự, điều này đã có tivi nói hộ rồi, cái chính là nhằm kiểm tra nhau về khả năng tiếp thu bài học. Bởi thế ngôi nhà thuê trong khu ổ chuột lúc nào cũng rất vui. Chẳng bao lâu mỗi người trong chúng tôi đã có thể đi chợ một mình, dần dần tất cả đều đọc thông viết thạo các văn bản giấy tờ tiếng Pháp.
|
|
duchue
member
REF: 347271
05/20/2008
|
>>
xem chủ đề
Nếu như em chỉ là em ?(rất bản lĩnh)
Nếu như em chỉ là em
thì anh không thể nào quên được người
Nếu anh mê quá em ơi
|
|
|
|
Kí hiệu:
:
trang cá nhân :chủ
để đã đăng
:
gởi thư
:
thay đổi bài
:ý kiến |
|
|
|
|
|